ĐIỆN DI PROTEIN HUYẾT THANH

Điện di protein huyết thanh (serum protein electrophoresis, SPEP) là một xét nghiệm không phức tạp, chi phí thấp nhằm phân tách các protein dựa trên điện tích, kích thước và hình dạng của chúng. Hai loại protein chính trong huyết thanh là albumin và globulin. Albumin là protein chính của huyết thanh, tạo ra đỉnh cao nhất, nằm gần nhất với cực dương. Globuline bao gồm nhiều phần nhỏ hơn của protein toàn bộ, nhưng lại là mối quan tâm chính của xét nghiệm này. Năm loại globuline là alpha-1, alpha-2, beta-1, beta-2, and gamma, trong đó gama nằm gần cực âm nhất.

Khoảng giá trị chuẩn của SPEP như sau:
· Albumin: 3.3-5.7 g/dL
· a-1: 0.1-0.4 g/dL
· a-2: 0.3-0.9 g/dL
· b-2: 0.7-1.5 g/dL
· gamma: 0.5-1.4 g/dL
Khoảng giá trị này có thể thay đổi tùy theo phòng xét nghiệm.

DIỄN GIẢI KẾT QUẢ
Nhiều bệnh hoặc tình trạng làm biến đổi hình dạng kết quả của điện di protein (bảng 1).

Bảng 1
Phân loại protein Tăng Giảm
Albumin Mất nước nặng Suy dinh dưỡng, suy kiệt, bệnh gan, bệnh ruột mất protein, bỏng nặng
Alpha-1 Tình trạng viêm, thai kỳ Thiếu alpha-1 antitrypsin
Alpha-2 Tình trạng viêm, hội chứng thận hư, dùng thuốc ngừa thai đường uống, dùng steroid, cường giáp Tán huyết, bệnh gan
Beta Tăng lipid máu, thiếu máu thiếu sắt Giảm lipoproteine B, suy dinh dưỡng
Gamma Bệnh gamma globuline đơn dòng và đa dòng Không có gammaglobulinemia, giảm gammaglobulinemia

Bệnh tăng gamma globuline đơn dòng

Trên kết quả điện di, biểu hiện là một dải hẹp bao gồm một dòng duy nhất immunoglobulin, được bài tiết bởi một dòng dưỡng bào (plasma cell) tăng trưởng bất thường, được gọi là M-protein (paraprotein, protein đơn dòng hoặc thành phần M). Một M-protein thường thể hiện như một đỉnh hẹp duy nhất, giống chóp nhà thờ, trong vùng gamma, beta, hoặc alpha-2.


Dạng đơn dòng trên SPEP

Kháng thể đơn dòng phải hiện diện ở nồng độ tối thiểu 0,5 g/dL để được nhận diện chính xác trên SPEP. Nồng độ này tương ứng với khoảng 109 tế bào sinh kháng thể. Rối loạn dưỡng bào liên quan một cách điển hình đến sự hiện diện của (xem bảng 2 dưới đây). Ngoài ra, thành phần M có thể được phát hiện trong các bệnh ác tính lympho như bạch cầu mãn dòng lympho, lymphoma tế bào B hoặc T, ung thư vú, ung thư đại tràng, xơ gan, sarcoidosis, và các rối loạn tự miễn khác.

Các tình trạng liên quan đến tăng đơn dòng trong vùng gamma bao gồm:
· Đa u tủy
· Smoldering myeloma
· Bệnh tăng gamma globuline đơn dòng ý nghĩa không xác định (MGUS)
· Tăng macro globuline máu Waldenstrom
· Hội chứng POEMS (polyneuropathy, organomegaly, endocrinopathy, monoclonal gammopathy, and skin changes)
· U tương bào đơn độc
· Bệnh Castleman
· Thoái biến dạng bột loại AL (AL amyloidosis)
· Bệnh lắng đọng chuỗi nặng (heavy chain deposition disease)
· Bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ (light chain deposition disease)

Bệnh gamma globuline đa dòng

Các tiến trình nhiễm, viêm và phản ứng khác nhau có thể liên quan đến một đỉnh đáy rộng hoặc một dải trong vùng gamma (hình 2). Dạng này gợi ý tăng immunoglobulin đa dòng. Bệnh gan, bệnh tự miễn, nhiễm siêu vi hoặc vi khuẩn mãn và nhiều bệnh ác tính khác nhau có thể gây tăng đa dòng trong vùng gamma (bảng 2).


Dạng đa dòng trên SPEP

Bảng 2. Các bệnh liên quan đến tăng gammaglobuline đa dòng
Tình trạng Ví dụ
Bệnh gan Xơ gan, viêm gan tự miễn hoặc siêu vi
Bệnh mô liên kết Viêm khớp dạng thấp, lupus hệ thống, xơ cứng bì, hội chứng Sjogren
Nhiễm Vi khuẩn: viêm xương – tủy xương, viêm nội tâm mạc
siêu vi: HIV/AIDS, viêm gan C, Epstein-Barr
Rối loạn/bệnh ác tính huyết học Lymphoma không Hodgkin, bạch cầu mãn dòng lympho, thalassemia, thiếu máu hồng cầu hình liềm
Bệnh ác tính không thuộc hệ máu Phổi, buồng trứng, dạ dày, tế bào gan

Chú ý

Sự hiện diện của M-protein có thể bị bỏ qua nếu nồng độ quá thấp để có thể phát hiện được bằng SPEP. Trong những trường hợp rất nghi ngờ có rối loạn đơn dòng tương bào, những phương pháp nhạy cảm hơn như cố định miễn dịch huyết thanh (serum immunofixation) hoặc xét nghiệm chuỗi nhẹ (free light chain assay) nên được thực hiện. ngoài ra, trong trường hợp thiếu alpha-1 antitrypsin hoặc giảm immunoglobulin, cần định lượng chuyên biệt vì SPEP không nhạy cảm trong những trường hợp này.

MÔ TẢ CÁC VÙNG TRÊN ĐIỆN DI PROTEIN
Albumin
Albumin là đỉnh cao nhất trong điện di protein, thường là một dải duy nhất, cao. Đôi khi có hai đỉnh cao như nhau, được gọi là albumin máu đôi (bisalbuminemia), hoặc là một dải rộng; cả hai đều là những biến thể bình thường. Những tình trạng liên quan đến giảm albumin bao gồm suy dinh dưỡng, xơ gan và hội chứng thận hư. Ngược lại, mất nước gây tăng albumin.

Một vùng giữa dải albumin alpha-1 gọi là liên vùng albumin-alpha-1 (interzone). Alpha-1 lipoprotein (High-density lipoprotein hoặc HDL) được thấy ở dạng bằng trong vùng này. Tăng thường thấy trong bệnh gan do rượu, thai kỳ hoặc trong thời kỳ dậy thì. Một dải nhọn cũng có thể hiện diện ở những bệnh nhân carcinoma tế bào gan do tăng alpha-fetoprotein (AFP).

Vùng alpha
Phần alpha-1 bao gồm alpha-1 antitrypsin, transcortin, và thyroid-binding globulin. Phần alpha-2 bao gồm ceruloplasmin, alpha-2 macroglobulin, và haptoglobin. Cả alpha-1 và 2 đều chứa những chất phản ứng của giai đoạn cấp; do đó, bệnh ác tính, nhiễm trùng hay viêm có thể gây tăng những phần này. Tăng tương đối phần alpha-2 có thể thấy trong hội chứng thận hư do kích thước tương đối lớn của chúng khiến chúng khó đi qua màng lọc cầu thận. Giảm thành phần alpha-1 có thể thấy trong thiếu alpha-1 antitrypsin và giảm thành phần alpha-2 có thể thấy trong thiếu máu tán huyết do giảm nồng độ haptoglobin.

Vùng beta
Vùng beta bao gồm beta-1 và beta-2 nhưng thường biểu hiện thành một dải duy nhất. Beta-1 bao gồm chủ yếu transferrin, và tăng trong những tình trạng như thiếu máu thiếu sắt, thai kỳ và trị liệu bằng estrogen. B-lipoprotein và bổ thể C3 được bao gồm trong phần beta 2. IgA, IgM, và đôi khi IgG có thể được nhận diện trong phần beta.

Vùng gamma
Các immunoglobulin chủ yếu trong vùng này bao gồm IgG, IgA, IgM, IgD và IgE. Các hội chứng không có gamma globuline (agammaglobulinemia) và giảm gamma globuline (hypogammaglobulinemia) như thiếu IgA liên quan đến giảm vùng này trên điện di. Nhiều bệnh lý viêm, tự miễn, huyết học và không huyết học có liên quan đến tăng đỉnh gamma. Tuy nhiên, kiêu tăng đỉnh nhọn, đồng dạng trong vùng gamma gây quan tâm đặc biệt vì nó có thể là biểu hiện của sự tăng sinh bất thường của những tương bào sản immunoglobulin.

CHỈ ĐỊNH/ÁP DỤNG
Điện di protein huyết thanh thường được xem xét ở bất kỳ bệnh nhân nào tăng protein toàn phần, đặc biệt là tăng globuline tương đối so với albumin, hoặc bất kỳ dấu chứng và triệu chứng nào gợi ý co một rối loạn tương bào nền tảng như đa u tủy, macroglobuline Waldenstrome, hoặc thoái biến dạng bột nguyên phát. Các dấu chứng và triệu chứng bao gồm:
- Thiếu máu, đau lưng, đau xương, mệt mỏi không giải thích được
- Gãy xương bệnh lý hoặc tổn thương hủy xương không giải thích được
- Bệnh thần kinh ngoại biên không giải thích được
- Tăng canxi máu thứ phát có thể do ác tính
- Tăng gamma globuline máu
- Hồng cầu hình chuỗi tiền trên phết máu ngoại biên
- Suy thận với cặn lắng nước tiểu bình thường
- Đạm niệu không giải thích được
- Hiện diện protein Bence Jones
- Nhiễm trùng tái đi tái lại

Bài gốc: Sherilyn Alvaran Tuazon, Eric B Staros. Serum Protein Electrophoresis.