Ths. Bs. Đào Danh Vĩnh
Khoa Chẩn đoán Hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai
Nguồn: bmir.vn

Điều trị phình động mạch chủ bụng (AAA - abdominal aortic aneurysm) bằng phương pháp đặt Endograft qua da hiện nay đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Đây là phương pháp điều trị có mức độ xâm nhập tối thiểu, không cần thiết phải thực hiện phẫu thuật ngoại khoa mở ổ bụng để giải quyết đoạn phình mạch, thời gian nằm viện chỉ trong vài ngày đến một tuần, thời gian hồi phục trở lại hoạt động bình thường trung bình từ 4 - 6 tuần. Một số bước cơ bản trong phương pháp này bao gồm:

1. Đánh giá trước can thiệp

Có nhiều xét nghiệm và thăm dò quan trọng phải thực hiện trước can thiệp nhưng trong đó một thăm khám quan trọng nhất là chụp Cắt lớp vi tính động mạch (CTA) hệ thống động mạch chủ ngực - bụng, đánh giá tổn thương, đưa ra chỉ định can thiệp phù hợp

Cổ túi phình không xơ vữa
Túi phình có huyết khối bám thành
ĐM chủ trên hình ảnh MIP - MPR ĐM chủ trên hình ảnh VRT
2. Mở đường vào lòng mạch

Mở đường vào lòng mạch có thể được thực hiện theo phương pháp ngoại khoa (surgical access) hoặc qua da (percutaneous access). Đối với phương pháp ngoại khoa, bác sỹ phẫu thuật mạch máu sẽ phẫu tích, bộc lộ và rạch đường vào động mạch đùi sau đó bác sỹ can thiệp đưa hệ thống ống dẫn (Introducer, sheath) vào lòng mạch. Đối với phương pháp qua da, bác sỹ can thiệp sẽ chọc vào động mạch đùi bằng kim, rạch da, sau đó sử dụng hệ thống ống nong để nong rộng đường vào đến kích thước phù hợp để đưa thệ thống ống dẫn (Introducer, sheath) vào lòng mạch.

Phương pháp qua da Phương pháp phẫu thuật
3. Chụp mạch DSA đánh giá túi phình

Đưa catheter vào trong ĐM chủ Chụp mạch DSA đánh giá ĐM chủ
4. Đặt thân chính của Endograft

Đặt thân chính (main body) của stent graft là giai đoạn quan trọng nhất, quyết định sự thành công hay thất bại của phương pháp điều trị. Phần lớn các tai biến nguy hiểm cũng xảy ra ở giai đoạn này.

Đưa hệ thống Endograft vào động mạch chủ bụng Đánh giá vị trí của Endograft so với túi phình động mạch chủ
Thực hiện mở phần đầu của Endograft Chụp mạch đánh giá vị trí Endograft
Tiếp tục mở toàn bộ thân chính của Endograft Thân chính của Endograft sau khi đã mở hoàn toàn
5. Đặt các nhánh của Endograft

Sau khi thân chính của Endograft đã đặt thành công, việc đặt các nhánh (limb) của Endograft thường khá thuận lợi, không gặp nhiều khó khăn.

Nhánh bên trái được đưa vào nối tiếp với thân chính của Endograft Sau khi mở hoàn toàn, nhánh bên trái đã kết nối với phần thân chính
6. Dùng bóng nong để mở rộng Stent graft

Sau khi thân chính (main body) và các nhánh (limbs) đã được đặt thành công, việc tiếp theo là dùng bóng (balloon) để nong rộng lòng mạch, giúp cho Endograft bám dính vào thành động mạch chủ cũng như khép kín các khe hở giữa thành động mạch chủ và áo ngoài của Endograft, hoặc khép kín các vị trí nối giữa thân chính và các nhánh

Dùng bóng nong thân chính Dùng bóng nong các nhánh
7. Chụp mạch kiểm tra

Đánh giá mức độ nở của Endograft, tình trạng tuần hoàn của động mạch chủ ở trước - trong - sau Endograft và đánh giá tình trạng Endoleak (còn dòng chảy giữa thành động mạch và Endograft).

Toàn cảnh Endograft sau khi đã đặt Chụp DSA: trước Endograft
Chụp DSA: trong Endograft Chụp DSA: sau Endograft
8. Đóng đường vào lòng mạch

- Đóng đường vào lòng mạch ngoại khoa: bác sỹ phẫu thuật mạch máu khâu lỗ thủng động mạch đùi bằng kim chỉ chuyên dụng.

- Đóng đường vào lòng mạch qua da: bác sỹ can thiệp sử dụng cụ đóng đường vào lòng mạch (closure devices) để đóng lỗ thủng động mạch đùi.
- Kết thúc thủ thuật

9. Chụp kiểm tra sau can thiệp

Sau can thiệp 48 - 72 giờ, cần chụp Cắt lớp vi tính động mạch chủ ngực - bụng để đánh giá hiệu quả điều trị, các biến chứng có thể xảy ra.

Thân chính và các nhánh của Endograft nằm trong túi phình động mạch, lưu thông bình thường. Huyết khối hình thành, lấp đầy khoảng không gian giữa Endograft và thành mạch
Hình ảnh VRT dựng hình động mạch chủ ngực - bụng với Endograft đã loại bỏ khối phình động mạch chủ bụng. Lưu thông máu trong Endograft bình thường
10. Kiểm tra, tái khám định kỳ

- Thời gian tái khám sau can thiệp là: 1,5tháng - 3 tháng - 6 tháng - 12 tháng. Sau đó định kỳ mỗi 6 tháng - Khi tái khám cần mang theo phim ảnh, giấy ra viện, kết quả can thiệp (người bệnh cần photocopy một số bản để tránh thất lạc) để bác sỹ khám bệnh nắm được quá trình diến biến bệnh.