Results 1 to 9 of 9

Thread: Đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới dự phòng nhồi máu phổi

  1. #1
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default Đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới dự phòng nhồi máu phổi

    ThS. Bs. Đào Danh Vĩnh
    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai
    Nguồn: bmir.vn
    GIỚI THIỆU

    1. Nhồi máu phổi và huyết khối TM sâu

    Nhồi máu động mạch phổi (PE) là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của bệnh lý huyết khối tĩnh mạch chi, đặc biệt là huyết khối tĩnh mạch chi dưới. Tại Mỹ, hằng năm có khoảng 355.000 người mắc được chẩn đoán PE có triệu chứng và trong số đó có khoảng 240.000 trường hợp tử vong. Thuốc chống đông hiện nay vẫn là biện pháp sử dụng đầu tay trong điều trị và dự phòng PE. Tuy nhiên, chỉ sử dụng liệu pháp chống đông đơn thuần thì không đủ hiệu quả để điều trị và dự phòng PE nặng. Điều trị tiêu sợi huyết (thrombolytic) hoặc kết hợp với lấy các phương pháp điều trị cơ học (mechanical treatment) đã được đề xuất và hứa hẹn mang lại kết quả khả quan. Cho đến nay, hầu hết các tác giả đều thừa nhận việc dự phòng PE bằng ngăn chặn các yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến PE là chiến lược hiệu quả nhất cho người bệnh, cụ thể là cần phải ngăn chặn các mảng huyết khối đi vào trong hệ tuần hoàn phổi.

    2. Lược sử kỹ thuật đặt lưới lọc TM chủ dưới


    Năm 1874, John Hunter đã mô tả phương pháp thắt tĩnh mạch đùi để dự phòng PE trên bệnh nhân có huyết khối TM chi dưới. Đến những năm 1940, một số tác giả đề xuất phương pháp thắt đoạn tĩnh mạch chủ dưới có huyết khối đến từ các TM trong tiểu khung. Thắt TM chủ dưới thực sự có hiệu quả dự phòng PE nhưng tỷ lệ tử vong trong phẫu thuật khoảng 14% và có 33% gây ra ứ trệ tuần hoàn TM sau phẫu thuật. Bởi đó, thắt TM chủ dưới đã được thay thế bởi các phương pháp khoanh vùng (compartmentalization) tĩnh mạch chủ dưới bằng chỉ (sutures), kẹp (clips) nhằm giảm biến chứng ứ trệ tuần hoàn TM. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong liên quan đến phẫu thuật vẫn còn khoảng 12%.

    Các loại kẹp TM chủ dưới
    Dù Mobin-Uddin Lưới lọc Greenfield
    Với mục đích cải thiện tỷ lệ tử vong liên quan đến phẫu thuật, năm 1967 lần đầu tiên một thiết bị lọc huyết khối có tên là dù Mobin – Uddin được giới thiệu. Tuy nhiên, dụng cụ này nhanh chóng không được sử dụng do tỷ lệ tắc TM chủ dưới lên đến 60%. Năm 1984, đặt lưới lọc hình nón Greenfield vào tĩnh mạch chủ dưới qua da được dưới thiệu, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong phương pháp ngăn chặn huyết khối hệ thống TM chi dưới. Cho đến nay, đã có rất nhiều kỹ thuật đặt lưới lọc TM chủ dưới qua da cũng như các loại lưới lọc khác nhau về hình dạng, vật liệu, nguyên lý hoạt động được phát triển, được áp dụng rộng rãi trên thế giới, có hiệu quả dự phòng PE cao và đặc biệt là an toàn cho người bệnh.
    GuntherTulip (Cook) OptEase (Cordis) RecoveryG2 (BARD)
    Một số loại lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới thường dùng hiện nay
    Một số nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên về hiệu quả dự phòng PE giữa nhóm chỉ sử dụng chống đông đơn thuần và một nhóm kết hợp giữa chống đông và đặt lưới lọc TM chủ dưới trên bệnh nhân có huyết khối TM sâu chi dưới. Kết quả cho thấy rằng, ở nhóm có đặt lưới lọc TM chủ dưới tỷ lệ PE còn 3,4% sau 2 năm đã giảm rõ rệt so với 6,3% ở nhóm không đặt lưới lọc và sau 8 năm thì các con số tương ứng là 6,2% và 15,1%.

    CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH

    Năm 1984, đặt lưới lọc hình nón Greenfield vào tĩnh mạch chủ dưới qua da được dưới thiệu, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong phương pháp ngăn chặn huyết khối hệ thống tĩnh mạch chi dưới đi vào tim và gây tắc mạch phổi (PE). Cho đến nay, đã có rất nhiều kỹ thuật đặt lưới lọc TM chủ dưới qua da cũng như các loại lưới lọc khác nhau về hình dạng, vật liệu, nguyên lý hoạt động được phát triển, được áp dụng rộng rãi trên thế giới, có hiệu quả dự phòng PE cao và đặc biệt là an toàn cho người bệnh.

    1. Chỉ định


    Mục đích duy nhất của đặt lưới lọc TM chủ dưới là dự phòng huyết khối ĐM phổi. Các chỉ định của đặt lưới lọc TM chủ dưới gồm 2 vấn đề chính là: (1) vẫn có nguy cơ cao nhối máu ĐM phổi dù đã điều trị chống đông và (2) là có nguy cơ cao nhồi máu ĐM phổi và chống chỉ định với dùng chống đông. Hội điện quang can thiệp thế giới (SIR) đã đưa ra chỉ định đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới:

    Chỉ định tuyệt đối
    Chỉ định tương đối
    Chỉ định dự phòng
    VTE tái phát dù đã điều trị chống đông tích cực DVT ở TM chủ - chậu Nguy cơ VTE sau chấn thương

    Mảng huyết khối lớn, lơ lửng trong lòng mạch Chuẩn bị phẫu thuật cho bệnh nhân có VTE
    Chống chỉ định với liệu pháp chống đông Điều trị tiêu huyết khối (thrombolysis) cho huyết khối ở TM chủ - chậu. Sử dụng các thuốc có nguy cơ cao gây VTE
    Có biến chứng của liệu pháp chống đông VTE trên bệnh nhân có bệnh lý tâm phế mạn
    Không thể tiếp tục duy trì liệu pháp chống đông Không tuân thủ được liệu pháp chống đông

    Nguy cơ cao có biến chứng của liệu pháp chống đông

    VTE (venous thromboembolism): huyết khối - cục máu đông tĩnh mạch DVT (deep venous thrombosis): huyết khối tĩnh mạch sâu Chỉ định tuyệt đối được áp dụng cho những bệnh nhân VTE nhưng lại có chống chỉ định với chống đông, hoặc điều trị chống đông thất bại, hoặc điều trị chống đông có nguy cơ dẫn đến biến chứng chảy máu. Nhóm bệnh nhân này bao gồm các trường hợp đang có biểu hiện chảy máu trong, xuất huyết não, xuất huyết tiêu hóa nặng, chuẩn bị phẫu thuật (đặc biệt phẫu thuật thần kinh).

    Đặt lưới lọc TM chủ dưới dự phòng chỉ đặt ra đối với những trường hợp có nguy cơ cao với VTE, như phẫu thuật tủy, phẫu thuật nối vị tràng với chỉ số khối cơ thể BMI >55 kg/m2, chấn thương nặng có tổn thương thần kinh trung ương, vỡ khung chậu, gãy xương dài.

    2. Chống chỉ định

    Có một số chống chỉ định đối với đặt lưới lọc TM chủ dưới, tuy nhiên những chống chỉ định này có tính chất tương đối, vì có thể khắc phục được trong những điều kiện thực tế cụ thể.

    Nhóm chống chỉ định TÌnh trạng bệnh lý
    Bệnh lý TM chủ dưới - Hẹp tắc TM chủ dưới do huyết khối, do bị xama lấn, chèn ép
    - Thiểu sản, bất sản TM chủ dưới
    - TM chủ dưới có đường kính > 40mm
    Không có đường vào - TM cảnh trong, TM dưới đòn, TM đùi bị tắc hoặc
    - Tổ chức phần mềm quanh các TM này đang bị viêm nhiễm
    Rối loạn đông máu
    không kiểm soát được
    - Xuất huyết giảm tiểu cầu
    - Hemophilia
    - Thiểu yếu tố đông máu
    Tai biến thuốc cản quang - Dị ứng thuốc cản quang Iode
    - Suy thận tiến triển
    Bệnh lý toàn thân nặng - Nhiễm trùng huyết

    Một trong những chống chỉ định hay gặp nhất là không có vị trí đặt lưới lọc, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như tắc nghẽn TM chủ dưới do huyết khối, khối u xâm lấn, dị tật thiểu sản, bất sản TM chủ dưới. Trong những trường hợp này, máu TM chi dưới trở về tim qua những vòng tuần hoàn bàng hệ TM, xoắn vặn, ngoằn nghoèo khiến cho việc đặt lưới lọc là không thể. Một số trường hợp dị tật bẩm sinh TM chủ dưới, có thể đặt lưới lọc vào các TM đơn hoặc TM bán đơn. Một chống chỉ định khác của đặt lưới lọc TM chủ dưới là không có đường vào TM, cụ thể như các TM cảnh trong, TM dưới đòn, ĐM đùi đều bị tắc nghẽn hoặc tổ chức phần mềm ở các vị trí này đang trong tình trạng viêm, nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, trong thực tế, hiếm khi nào toàn bộ các vị trí tiếp cận này đều có tình trạng bệnh lý, chỉ là chọn vị trí nào để tiếp cận TM chủ dưới thuận lợi và an toàn nhất mà thôi. Đối với những trường hợp rối loạn ĐM máu nặng không thể kiểm soát, việc sử dụng siêu âm định hướng khi chọc TM sẽ tăng được độ chính xác và khả năng thành công của thủ thuật, giảm được biến chứng chảy máu. Đối với những trường hợp dị ứng thuốc cản quang Iode hoặc suy thận tiến triển, có thể sử dụng thuốc cản quang CO2 hoặc Gadolinium để chụp TM chủ dưới trước khi đặt lưới lọc.

    KỸ THUẬT

    Năm 1984, đặt lưới lọc hình nón Greenfield vào tĩnh mạch chủ dưới qua da được dưới thiệu, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong phương pháp ngăn chặn huyết khối hệ thống tĩnh mạch chi dưới đi vào tim và gây tắc mạch phổi. Cho đến nay, đã có rất nhiều kỹ thuật đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới qua da cũng như các loại lưới lọc khác nhau về hình dạng, vật liệu, nguyên lý hoạt động được phát triển, được áp dụng rộng rãi trên thế giới.

    Một số bước cơ bản trong quy trình đặt lưới lọc tĩnh mạch chủ dưới bao gồm

    1. Đánh giá trước can thiệp

    Chụp CTscanner: Huyết khối tĩnh mạch chậu ngoài, tĩnh mạch chậu gốc bên trái lan lên tĩnh mạch chủ dưới
    2. Mở đường vào tĩnh mạch

    Thường mở đường vào từ tĩnh mạch cảnh trong trái dưới hướng dẫn siêu âm. Một số trường hợp có thể mở từ TM đùi chung bên đối diện
    3. Chụp tĩnh mạch chủ dưới

    Huyết khối tạo hình ảnh khuyết thuốc trong lòng TM chủ dưới ngay trên ngã ba chủ chậu và tắc hoàn toàn TM chậu bên trái.
    4. Đưa lưới lọc vào vị trí xác định

    Lưới lọc khi còn nằm trong sheath, được đẩy từ từ theo cán dẫn đường Lưới lọc khi ra khỏi sheath, nằm trong lòng TM chủ dưới nhưng chưa được thả.
    5. Thả lưới lọc vào tĩnh mạch chủ dưới

    Kiểm tra vị trí lưới lọc trên tư thế nghiêng Thả lưới lọc vào trong lòng tĩnh mạch chủ
    6. Chụp mạch kiểm tra

    Lưới lọc nằm đúng vị trí, không bị đổ lệch. Tĩnh mạch chủ dưới không bị rách, thủng.
    7. Kết thúc thủ thuật
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  2. #2
    VTE's Avatar
    VTE
    VTE is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-15
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    106
    Cám ơn
    12
    Được cám ơn
    57/26
    Kinh nghiệm khám
    11

    Default

    Dear Dr Vĩnh,
    Cảm ơn bác đã có một bài viết rất hay và chuyên sâu, mong bác tiếp tục có những bài viết như thế này.
    Song tôi xin có một số comment như sau:
    - Không nên dùng thuật ngữ: "nhồi máu động mạch phổi" mà nên dùng là "Tắc động mạch phổi" hoặc nói gọn hơn là "Tắc mạch phổi". Vì sao thì xin tìm lại một số bài viết chúng ta đã thảo luận.
    - Thứ hai cần làm rõ: 50-60% các trường hợp Tắc mạch phổi tìm thấy huyết khối ở tĩnh mạch sâu thì mới xét có đặt phin lọc hay không.
    - Thứ 3: Đây là kỹ thuật vì vậy bác phải cho thêm phần biến chứng như thế nào nhé, như trôi phin lọc, hoại tử...và có loại phin lọc nào như tạm thời và vĩnh viễn ...
    - Thứ 4: Là phải trích dẫn tài liệu tham khảo cho 1 bài viết chất lượng như thế này
    - Thứ 5: như bác đã nói có 2 chỉ định chính cho phin lọc tĩnh mạch chủ dưới là 1. TMP có huyết khối tĩnh mạch sâu mà chống chỉ định tuyệt đối thuốc chống đông, 2. TMP tái phát có huyết khối tĩnh mạch sâu mặc dù đã dùng đúng thuốc chống đông. Và đây là một nghiên cứu hồi cứu của Mỹ mới công bố, xin đưa ra để các mem tham khảo:
    Một nghiên cứu mới đây nhất của Stein và Matta, được công bố năm 2012, hồi cứu qua hồ sơ các trường hợp rời bệnh viện được chẩn đoán tắc mạch phổi sau 1 thời gian ngắn nằm ở bệnh viện từ 1999 đến 2008. Tác giả định nghĩa TMP không ổn định là các bệnh nhân TMP có sốc hoặc thở máy. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 21390/ 72 230 (30%) trương hợp được tiêu sợi huyết. Tổng hợp tử vong chung ở nhóm tiêu sợi huyết là 15% trong khi nhóm không tiêu sợi huyết là 47% (p < 0,0001). Tử vong liên quan trực tiếp do TMP được tiêu sợi huyết là 8,4%, không được tiêu sợi huyết là 42% và nếu kết hợp thêm đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới tỷ lệ tử vong là 2,7% so với tỷ lệ tử vong 27% nếu chỉ đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới (p < 0,0001), kết luận tiêu sợi huyết làm giảm tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân TMP không ổn định (sốc hoặc thở máy) và tỷ lệ tử vong giảm hơn nếu được kết hợp với đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới [Paul D. Stein, Fadi Matta (2012). Thrombolytic Therapy in Unstable Patients with Acute Pulmonary Embolism: Saves Lives but Underused. The American Journal of Medicine; 125, 465-470. Qua nghiên cứu này chúng ta thấy, có thể mở rộng chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết + phin lọc tĩnh mạch chủ dưới với các bệnh nhân Tắc mạch phổi phải thở máy mà có thể huyết động ổn định.
    Thân - Dr Hoàng Bùi Hải
    Residents leading innovation in medical care, training and research!
    Khiêm tốn, thật thà và dũng cảm!

  3. #3
    daodanhvinh's Avatar
    daodanhvinh is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-82
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Thường ở
    Hà Nội
    Bệnh nhân
    15
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    10/7
    Kinh nghiệm khám
    7

    Red face Thanks Dr Hoang Bui Hai

    - Thứ 1: vấn đề thuật ngữ, tiếng Anh thì là Pulmonary embolism và được dùng thống nhất nhưng khi dịch sang tiếng Việt thì tùy theo thói quen, vùng miền. Người thì dịch là nhồi máu phổi, người thì dịch là thuyên tắc phổi, người thì dịch là tắc ĐM phổi hay tắc mạch phổi.....
    - Thứ 2: Chỉ định và chống chỉ định của IVC filter được SIR đưa ra guide line. Xin mời xem thêm:
    Chỉ định và chống chỉ định của đặt lưới lọc TM chủ dưới
    - Thứ 3 & 4: mục đích các bài viết trên bmir chủ yếu là giới thiệu tổng quan. Không phải là diễn đàn chuyên ngành nên các bài viết đều cố gắng đơn giản hóa để truyền tải thông tin đến độc giả, trong đó có một phần không nhỏ là bệnh nhân và những người không chuyên.
    - Thứ 5: Chỉ định và chống chỉ định của IVC filter theo SIR (Society of Interventional Radiology): http://www.sirweb.org/misc/Guidelines_filters.pdf

    Thank you

    Quote Originally Posted by VTE View Post
    Dear Dr Vĩnh,
    Cảm ơn bác đã có một bài viết rất hay và chuyên sâu, mong bác tiếp tục có những bài viết như thế này.
    Song tôi xin có một số comment như sau:
    - Không nên dùng thuật ngữ: "nhồi máu động mạch phổi" mà nên dùng là "Tắc động mạch phổi" hoặc nói gọn hơn là "Tắc mạch phổi". Vì sao thì xin tìm lại một số bài viết chúng ta đã thảo luận.
    - Thứ hai cần làm rõ: 50-60% các trường hợp Tắc mạch phổi tìm thấy huyết khối ở tĩnh mạch sâu thì mới xét có đặt phin lọc hay không.
    - Thứ 3: Đây là kỹ thuật vì vậy bác phải cho thêm phần biến chứng như thế nào nhé, như trôi phin lọc, hoại tử...và có loại phin lọc nào như tạm thời và vĩnh viễn ...
    - Thứ 4: Là phải trích dẫn tài liệu tham khảo cho 1 bài viết chất lượng như thế này
    - Thứ 5: như bác đã nói có 2 chỉ định chính cho phin lọc tĩnh mạch chủ dưới là 1. TMP có huyết khối tĩnh mạch sâu mà chống chỉ định tuyệt đối thuốc chống đông, 2. TMP tái phát có huyết khối tĩnh mạch sâu mặc dù đã dùng đúng thuốc chống đông. Và đây là một nghiên cứu hồi cứu của Mỹ mới công bố, xin đưa ra để các mem tham khảo:
    Một nghiên cứu mới đây nhất của Stein và Matta, được công bố năm 2012, hồi cứu qua hồ sơ các trường hợp rời bệnh viện được chẩn đoán tắc mạch phổi sau 1 thời gian ngắn nằm ở bệnh viện từ 1999 đến 2008. Tác giả định nghĩa TMP không ổn định là các bệnh nhân TMP có sốc hoặc thở máy. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 21390/ 72 230 (30%) trương hợp được tiêu sợi huyết. Tổng hợp tử vong chung ở nhóm tiêu sợi huyết là 15% trong khi nhóm không tiêu sợi huyết là 47% (p < 0,0001). Tử vong liên quan trực tiếp do TMP được tiêu sợi huyết là 8,4%, không được tiêu sợi huyết là 42% và nếu kết hợp thêm đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới tỷ lệ tử vong là 2,7% so với tỷ lệ tử vong 27% nếu chỉ đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới (p < 0,0001), kết luận tiêu sợi huyết làm giảm tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân TMP không ổn định (sốc hoặc thở máy) và tỷ lệ tử vong giảm hơn nếu được kết hợp với đặt phin lọc tĩnh mạch chủ dưới [Paul D. Stein, Fadi Matta (2012). Thrombolytic Therapy in Unstable Patients with Acute Pulmonary Embolism: Saves Lives but Underused. The American Journal of Medicine; 125, 465-470. Qua nghiên cứu này chúng ta thấy, có thể mở rộng chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết + phin lọc tĩnh mạch chủ dưới với các bệnh nhân Tắc mạch phổi phải thở máy mà có thể huyết động ổn định.
    Thân - Dr Hoàng Bùi Hải

  4. #4
    VTE's Avatar
    VTE
    VTE is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-15
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    106
    Cám ơn
    12
    Được cám ơn
    57/26
    Kinh nghiệm khám
    11

    Default

    Cảm ơn Dr Đào Danh Vĩnh,

    Thực ra các bài viết mang tính khoa học ở các trang ngay cả trên bmir cũng nên trích dẫn tài liệu gốc. Vì những người cần tham khảo rộng hơn có điều kiện để làm giàu thêm kiến thức của mình. Và diễn đàn cũng mong sẽ dần dần các thành viên sẽ làm như thế.

    Tôi chỉ nói thêm về thuật ngữ: Thuật ngữ cần có sự thống nhất để dễ gọi (thuận thinh âm), dễ truy cập, tìm trên mạng thông qua từ khoá, song không nên làm đi quá xa bản chất hiện tượng làm người nghe hiểu nhầm. Trong đó, nhồi máu (infarction) được định nghĩa theo WP như sau:
    In medicine, infarction refers to tissue death (necrosis) caused by an obstruction of the tissue's blood supply, which leads to a local lack of oxygen.[1] The resulting lesion is referred to as an infarct,[2][3] (from the Latin infarctus, "stuffed into").[4]

    Tạm dịch: Trong y học, nhồi máu chỉ sự chết của mô (hoại tử) gây nên do tắc nghẽn (obstruction) của nguồn máu (nuôi dưỡng) cho mô, do thiếu oxy cục bộ. Vùng tổn thương đó gọi là vùng nhồi máu
    Vậy nếu bác dùng từ "Nhồi máu động mạch phổi" là vừa thừa và vừa không đúng: Vì động mạch phổi có hoại tử đâu? Còn nếu bác hiểu "nhồi" là nhét cái gì vào cái gì thì động mạch phổi vẫn có máu cớ sao lại phải nhét máu vào đó? Có thể "nhồi" để làm làm món "lòng" như chúng ta được biết thì không thể dùng trong hoàn cảnh này, mà phải xem: Nhồi máu là chết, hoại tử nhu mô, là hậu quả của tắc mạch nuôi dưỡng cho nhu mô. Và Nhồi máu phổi là Hoại tử nhu mô phổi (necrosis of pulmonary parenchyma), và ắt hẳn là hậu quả của giảm hay mất dòng máu hay Oxy nuôi cho nhu mô phổi. Nhu mô phổi được cung cấp máu bởi động mạch phế quản (bronchial artery) và một phần trực tiếp từ phế nang, và Nhồi máu phổi (pulmonary infarction) là do nguyên nhân nào đó gây Tắc động mạch phế quản hoặc giảm oxy nuôi.

    Tắc mạch phổi (Pulmonary Embolism, tắc động mạch chức năng của phổi, thường do huyết khối từ nơi khác đến), cơ chế viêm, co thắt mạch ở vùng xung quanh động mạch phổi bị tắc ở ngoại vi có thể gây nên Nhồi máu phổi (khoảng 10% trường hợp Tắc mạch phổi có biểu hiện hậu quả Nhồi máu phổi). Và nếu gọi Nhồi máu phổi để thay thế cho 90% trường hợp còn lại của Tắc mạch phổi không có nhồi máu phổi là thiếu sót.

    Nên gọi là Tắc động mạch phổi là phù hợp nhất, còn có thể gọi là Tắc động mạch phổi do huyết khối tĩnh mạch (Nhưng quá dài, và chúng tôi thường gọi là Tắc mạch phổi); còn về chừng mực nào đấy các đồng nghiệp Miền Nam gọi là Thuyên tắc phổi cũng rất hay. Tuy nhiên tôi cũng xin ý kiến các chuyên gia thống nhất gọi là Tắc mạch phổi.

    Vậy chỉ đôi lời giải thích mong bác chấp nhận và chỉnh sửa để các đồng nghiệp dễ tìm bài của bác hơn.

    Bác có thể vào diễn đàn dưới đây để đọc thêm phần thảo luận mà tôi đã từng thảo luận với các đồng nghiệp miền Nam nhé
    .

    Tắc động Mạch Phổi (pulmonary Embolism) - Nhịp cầu y khoa

    Chúc bác tiếp tục có nhiều đóng góp cho diễn đàn!

    Dr Hoàng Bùi Hải
    Last edited by VTE; 08-01-13 at 21:15.
    Residents leading innovation in medical care, training and research!
    Khiêm tốn, thật thà và dũng cảm!

  5. #5
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    306
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    133/84
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Mấy chữ nhồi máu (infarction), tắc mạch (embolism)... có lẽ nên trích dẫn từ các sách giải phẫu bệnh, mình không phải bàn nhiều nữa. Có chỗ "thuyên...", thì thuyên 栓 là từ Hán Việt, nghĩa là nút, trong miền Nam hay dùng, ví dụ như thuyên tắc, huyết thuyên... Dùng thuyên tắc chuẩn hơn, ý chừng là tắc do bít trong lòng chứ không phải đè lấp bên ngoài. Tuy thế, ngôn ngữ có đặc điểm là theo quy luật đám đông, nên bây giờ xu hướng thích dùng tắc mạch thôi, cho nó dễ nghe dễ gọi.
    Nhân đây cũng bàn đến chữ nhồi máu, các bậc tiền bối cũng có lý khi dịch vậy. Nhật Bản và Trung Quốc không dịch được chữ đó hay đến vậy đâu.

  6. #6
    drhoanghai's Avatar
    drhoanghai is offline Sinh viên Y3 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-8
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    63
    Cám ơn
    85
    Được cám ơn
    55/28
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Dear drthai, em lại e rằng từ thuyên ở đây có nghĩa là: di chuyển như trong từ thuyên chuyển công tác, từ cổ có từ thuyên quan lại (chuyển bác này đi làm quan ở chỗ khác). Và nghĩa khác là bớt, giảm: như trong trường hợp bệnh thuyên giảm. Vậy thuyên tắc phổi (tắc mạch phổi) là cái gì đó di chuyển lên phổi gây tắc tại phổi, câu từ thì cái gì đó di chuyển theo khí đạo vào phổi gây tắc thì sao? Vậy bản chất cứ nói Tắc động mạch phổi (tắc mạch phổi) là thể hiện rõ tắc tại động mạch ở phổi và có thể là do cái gì đó di chuyển trong lòng động mạch từ nơi khác đến.
    "Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui"

  7. #7
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    306
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    133/84
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Quote Originally Posted by drhoanghai View Post
    Dear drthai, em lại e rằng từ thuyên ở đây có nghĩa là: di chuyển như trong từ thuyên chuyển công tác, từ cổ có từ thuyên quan lại (chuyển bác này đi làm quan ở chỗ khác). Và nghĩa khác là bớt, giảm: như trong trường hợp bệnh thuyên giảm. Vậy thuyên tắc phổi (tắc mạch phổi) là cái gì đó di chuyển lên phổi gây tắc tại phổi, câu từ thì cái gì đó di chuyển theo khí đạo vào phổi gây tắc thì sao? Vậy bản chất cứ nói Tắc động mạch phổi (tắc mạch phổi) là thể hiện rõ tắc tại động mạch ở phổi và có thể là do cái gì đó di chuyển trong lòng động mạch từ nơi khác đến.
    Kính bác drhoanghai,
    Ý chừng bác tiện tay xem wikipedia mục chữ thuyên, hoặc giả xem từ điển của Hồ Ngọc Đức, giải thích chữ thuyên thông dụng. Muốn biết trong tiếng Việt có khả năng có bao nhiều chữ thuyên, bác có thể xem từ điển Hán Việt trích dẫn (H), từ điển Hán Việt các loại từ ngày xưa của Đào Duy Anh cho đến bản gần đây của Thương Vụ ấn thư quán - Trung Quốc, có đến ngót chục bộ.
    Chữ nghĩa chúng tôi không dám võ đoán. Nói đến đâu xin dẫn đến đấy vậy.
    - chữ thrombus mời bác tra wikipedia, chọn ngôn ngữ 中文, nó sẽ ra 血栓 huyết thuyên
    - chữ pulmonary embolism, làm tương tự như vậy, bác sẽ có 肺栓塞 phế thuyên tắc
    Bác copy chữ 栓 thuyên này vào các từ điển, từ điển Hán Việt ở trên, hoặc từ điển Hán Anh nào đó, hoặc Google translate, là có nghĩa của chữ thôi. Có điều chữ 栓 thuyên này từ điển chuẩn phải đọc là xuyên, nhưng truyền thống mình hay đọc là thuyên, nên đọc mãi thành quen như thế.
    Có gì rườm chuyện mong bác bỏ quá cho.

  8. #8
    drhoanghai's Avatar
    drhoanghai is offline Sinh viên Y3 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-8
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    63
    Cám ơn
    85
    Được cám ơn
    55/28
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Dear bác, thế có gì không logic khi ta phân tích bằng tiếng Việt hiện đại? Phế thuyên tắc là Thuyên tắc phổi? Thế cụ Đào Duy Anh có nói Thuyên nghĩa là di chuyển không bác?
    "Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui"

  9. #9
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    306
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    133/84
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Quote Originally Posted by drhoanghai View Post
    Dear bác, thế có gì không logic khi ta phân tích bằng tiếng Việt hiện đại? Phế thuyên tắc là Thuyên tắc phổi? Thế cụ Đào Duy Anh có nói Thuyên nghĩa là di chuyển không bác?
    Xin thưa lại cùng bác drhoanghai thế này ạ:
    1. Nói đến chữ nghĩa, là ta căn cứ vào gốc gác nguyên nghĩa của nó, chứ không võ đoán. Võ đoán kiểu như xã hội là cái hội hay "xuồng xã" hoặc bác sĩ là những bác hay chết vì sĩ diện, kiểu kiểu như thế thì vui nhưng có lẽ chẳng cần phải nói đi nói lại.
    2. Có nhiều chữ cùng đọc là thuyên, nhưng nghĩa nó khác nhau. Nghĩa gốc chữ thuyên 銓 trong thuyên chuyển chẳng có gì là di chuyển hết, mà là cân nhắc, tuyển lựa. Thuyên chuyển là từ ghép, nghĩa bao hàm cả bổ nhiệm và đổi chức quan. Huống hồ chữ thuyên 栓 trong thuyên tắc, huyết thuyên lại là một chữ hoàn toàn khác.
    3. Không biết bác tham khảo từ điển nào, nhưng cũng xin thưa với bác luôn là mục chữ thuyên trên wikipedia chỉ vắn tắt có 2 nghĩa chữ thuyên thường dùng, là thuyên 痊 trong thuyên giảm và thuyên 銓 trong thuyên chuyển mà thôi. Trên đó không giải thích rõ, nên nhiều người hiểu rằng thuyên trong thuyên chuyển có hàm ý di chuyển gì đó.
    4. Thời nay dùng từ ngữ chẳng cần phải biết gốc gác, chỉ cần dùng làm sao thấy xuôi là được. Vấn đề là mọi người cùng chấp nhận, quy ước đó là chuẩn thì cứ thế mà dùng. Tuy nhiên nếu đã nói chuyện căn cứ, rồi nói đến chữ nghĩa, thì lại phải lai rai mất thì giờ như vậy.
    Mong bác drhoanghai thông cảm giúp cho.

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 24-07-14, 08:05
  2. [Kinh nghiệm] Giãn tĩnh mạch chi dưới (chân) trong suy tĩnh mạch mạn tính
    By Vietnam in forum TIẾT NIỆU, NAM HỌC
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 07-06-13, 21:05

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •