Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 12

Thread: Chẩn đoán và điều trị phình động mạch não bằng đường nội mạch

  1. #1
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default Chẩn đoán và điều trị phình động mạch não bằng đường nội mạch

    Ts. Bs. Vũ Đăng Lưu
    Khoa Chẩn đoán Hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai
    Nguồn: bmir.vn

    1-Phình động mạch não là giãn khu trú động mạch dạng hình túi hoặc hình thoi. Chiếm tỉ lệ 0,5-8% dân số

    2-Phình động mạch não nguy hiểm như thế nào?
    - Biến chứng nguy hiểm nhất là vỡ phình động mạch não gây chảy máu dưới nhện, chiếm khoảng 60-70% các chảy máu dưới nhện

    Túi phình ĐM não trên hình ảnh chụp mạch Minh họa túi phình đôngh mạch não vỡ, chảy máu
    - Khi vỡ:
    + Khoảng 30% các trường hợp tử vong trước khi đến được bệnh viện
    + Khoảng 30% các trường hợp để lại di chứng từ nhẹ đến nặng.
    + Nguy cơ vỡ tái phát rất cao nhất là trong 2 tuần đầu tiên chiếm 20%. Khi vỡ lần 2 tỉ lệ tử vong khoảng 50%
    + Các biến chứng khác: ứ nước não thất cấp và mạn tính, co thắt mạch và nhồi máu não chiếm 46%.

    Do vậy khi phình mạch não vỡ phải điều trị cấp cứu càng sớm càng tốt để tránh vỡ tái phát và giảm tỉ lệ tử vong và tàn tật.

    3-Khi phình mạch não vỡ có biểu hiện thế nào?
    - Xuất hiện đột ngột, đau đầu dạng ‘sét đánh’, mất ý thức, nôn, buồn nôn, thậm chí hôn mê, co giật
    - Có thể có dấu hiệu thần kinh khu trú: liệt nửa người, sụp mi, giảm thị lực.

    4-Nguyên nhân nào gây phình mạch não?
    - Hiện chưa xác định được chính xác nguyên nhân.
    - Có 1 số yếu tố nguy cơ: tăng huyết áp, di truyền, bệnh lý gan thận đa nang.

    5- Chẩn đoán phình mạch não bằng phương pháp không xâm nhập:
    - Với các phình mạch vỡ:
    + Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) phát hiện chảy máu dưới nhện với độ nhạy cao 95% nhất là khi chụp sớm.
    + Chụp mạch CLVT đa dãy (64 dãy) có độ nhạy và đặc hiệu rất cao từ 95-98%

    Hình chảy máu dưới nhện trên phim chụp CLVT Hình túi phình động mạch não vị trí thông sau phải
    - Với các trường hợp phình mạch chưa vỡ: chụp cộng hưởng từ được lựa chọn.

    6- Điều trị triệt để loại bỏ phình mạch não bằng cách nào?
    - Có 2 phương pháp: Can thiệp nội mạch qua daphẫu thuật

    Ảnh minh họa nguyên lý phẫu thuật kẹp cổ túi phình Ảnh can thiệp nội mạch thả vòng xoắn kim loại
    Hiện nay ở các trung tâm lớn trên thế giới phương pháp can thiệp nội mạch được lựa chọn đầu tiên vì tỉ lệ hồi phục tốt hơn và ít di chứng hơn. Kết quả ISAT 2002 trên tạp chí Lancet chỉ ra rằng: Tỉ lệ di chứng sau phẫu thuật chiếm 30,6%, của phương pháp can thiệp nội mạch 23,7%.

    - Bệnh viện Bạch Mai là nơi thực hiện đầu tiên kỹ thuật can thiệp nội mạch ở Việt Nam từ năm 2001 bởi PGS.TS Phạm Minh Thông. Kết quả hồi phục tốt với các trường hợp nút phình mạch não đạt 89,6%.

    - Các phương pháp điều trị can thiệp nội mạch hiện tại

    + Nút trực tiếp túi phình bằng vòng xoắn kim loại (VXKL) bằng Platin

    Ảnh túi phình thông sau trên CLVT Ảnh túi phình trên chụp mạch DSA
    Ảnh thả VXKL Sau can thiệp nút tắc hoàn toàn túi phình bằng VXKL
    + Đặt bóng bảo vệ chẹn cổ rồi thả VXKL

    Túi phình cổ rộng đỉnh thân nền trên DSA Ảnh chẹn 2 bóng qua cổ túi phình
    Ảnh nút tắc hoàn toàn túi phình sau can thiệp Ảnh mô hình chẹn bóng
    + Đặt giá đỡ nội mạch (Stent) rồi thả VXKL

    Ảnh chảy máu dưới nhện trên CLVT Hình túi phình cổ rộng ĐM thông sau
    Hình mô hình đặt Stent Ảnh đặt Stent kèm thả VXKL

    Ảnh tắc hoàn toàn túi phình sau can thiệp
    + Thay đổi hướng dòng chảy bằng giá đỡ nội mạch: Silk Stent hoặc Pipeline

    Ảnh túi phình gây hiệu ứng khối vùng xoang hang Hình phình lớn hình túi vị trí xoang hang
    Ảnh đặt Silk stent Ảnh dòng chảy chậm đọng trong túi
    Ảnh tắc hoàn toàn túi phình sau can thiệp trên chụp mạch CHT và hết hiệu ứng khối
    + Nút tắc mạch mang túi phình qua đó tắc túi phình: chỉ định khi không bảo tồn mạch mang với các phình mạch hình thoi hoặc khổng lồ.

    Theo dõi sau can thiệp: bệnh nhân được kiểm tra định kỳ bằng chụp Cộng hưởng từ não- mạch não 6 tháng, 1 năm, 3 năm, 5 năm, 10 năm và 15 năm.
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  2. #2
    thanhtam's Avatar
    thanhtam is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-32
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    157
    Cám ơn
    22
    Được cám ơn
    190/82
    Kinh nghiệm khám
    25

    Default

    Đặt vòng xoắn kim loại có giá đỡ nội mạch thì có tốt hơn không dùng giá đỡ nội mạch không vậy? Ở Bạch Mai có đang chuộng dùng giá đỡ nội mạch không? Thực tế lâu dài ở bệnh nhân như thế nào ạ?

  3. #3
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Chỉ định dùng giá đỡ nội mạch để thả coils, để thay đổi dòng chẩy trong những trường hợp túi phình cổ rộng và/hoặc có nguy cơ biến chứng tuột coils, tắc mạch lân cận...

    Ở Bệnh viện Bạch Mai bắt đầu tiến hành từ hơn một năm nay, kết quả thế nào thì chưa có tổng kết đầy đủ. Tuy nhiên thấy các bác ấy bảo nước ngoài đã nghiên cứu, áp dụng cho rất có kết quả rất tốt

    Em chỉ có thể nói như vậy thôi, cụ thể thế nào thì phải chờ ý kiến của các bác bên CĐHA
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  4. #4
    daodanhvinh's Avatar
    daodanhvinh is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-82
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Thường ở
    Hà Nội
    Bệnh nhân
    15
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    10/7
    Kinh nghiệm khám
    7

    Default

    Xin bổ sung: vấn để kết hợp giá đỡ (stent) với vòng xoắn kim loại (coils) - Stent assisted coil embolization - không phải là "chuộng" hay "không chuộng" và nó có chỉ định cụ thể, chính xác hơn là áp dụng cho những túi phình cổ rộng, dựa theo tỷ lệ đáy - cổ. Kỹ thuật này đã được FDA chấp nhận, đã có nhiều nghiên cứu ở Mỹ và EU (vd: Stent-assisted coil embolization of intracr... [J Chin Med Assoc. 2012] - PubMed - NCBI) chứng minh hiệu quả của SACE. Tại Việt Nam, BMR chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật này từ 2010, số lượng ca còn hạn chế bởi vì chi phí rất cao, không nhiều người có khả năng chi trả. Chỉ riêng nút túi phình đm não bằng coils đã có chi phí rất cao rồi, cộng thêm stent động mạch não nữa thì người bệnh không thể chi trả nổi.

  5. The Following User Says Thank You to daodanhvinh For This Useful Post:

    thanhtam (30-08-12)

  6. #5
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Quote Originally Posted by daodanhvinh View Post
    Xin bổ sung: vấn để kết hợp giá đỡ (stent) với vòng xoắn kim loại (coils) - Stent assisted coil embolization - không phải là "chuộng" hay "không chuộng" và nó có chỉ định cụ thể, chính xác hơn là áp dụng cho những túi phình cổ rộng, dựa theo tỷ lệ đáy - cổ. Kỹ thuật này đã được FDA chấp nhận, đã có nhiều nghiên cứu ở Mỹ và EU (vd: Stent-assisted coil embolization of intracr... [J Chin Med Assoc. 2012] - PubMed - NCBI) chứng minh hiệu quả của SACE. Tại Việt Nam, BMR chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật này từ 2010, số lượng ca còn hạn chế bởi vì chi phí rất cao, không nhiều người có khả năng chi trả. Chỉ riêng nút túi phình đm não bằng coils đã có chi phí rất cao rồi, cộng thêm stent động mạch não nữa thì người bệnh không thể chi trả nổi.
    Làm một bài tổng quan, chi tiết hơn về chủ đề này đi
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  7. #6
    thanhtam's Avatar
    thanhtam is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-32
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    157
    Cám ơn
    22
    Được cám ơn
    190/82
    Kinh nghiệm khám
    25

    Default

    Theo nghiên cứu này thì SACE giúp làm giảm tái phát hơn là không dùng giá đỡ nhưng lại có nhiều biến chứng chết người hơn, theo kinh nghiệm của bạn thì sao ạ?

  8. #7
    daodanhvinh's Avatar
    daodanhvinh is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-82
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Thường ở
    Hà Nội
    Bệnh nhân
    15
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    10/7
    Kinh nghiệm khám
    7

    Default

    Đây là một chủ đề rất sâu, để có câu trả lời chính xác và thỏa đáng nhất, xin mời liên hệ chuyên gia phụ trách và trực tiếp thực hiện
    Ts.Bs.Vũ Đăng Lưu
    Còn với cụ thể bài báo, mình làm về mạch ngoại biên, không chuyên về can thiệp thần kinh nên không có kinh nghiệm về vấn đề nay, tuy nhiên cũng có một số ý kiến như sau:
    - Đây là bài báo có số lượng ca can thiệp lớn, được thực hiện ở một trong những trung tâm can thiệp thần kinh hàng đầu của Pháp và Thế giới với những chuyên gia giầu kinh nghiệm
    - Tuy nhiên, để đánh giá hay so sánh một phương pháp này với một phương pháp khác thì nghiên cứu có giá trị nhất là RTC. Còn trong nghiên cứu này, đây là retrospective study, không phải RTC.
    - Số lượng của SACE và None-SACE không thuần nhất
    - Không thấy đề cập đến thang điểm phân độ nặng giữa 2 nhóm (ví dụ Hunt-Hess scale) đặc biệt là phần chỉ định, lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
    -> việc đưa ra kết luận về hiệu quả, so sánh kết quả còn nhiều điều phải bàn.


  9. #8
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Quote Originally Posted by daodanhvinh View Post
    Đây là một chủ đề rất sâu, để có câu trả lời chính xác và thỏa đáng nhất, xin mời liên hệ chuyên gia phụ trách và trực tiếp thực hiện
    Ts.Bs.Vũ Đăng Lưu
    Còn với cụ thể bài báo, mình làm về mạch ngoại biên, không chuyên về can thiệp thần kinh nên không có kinh nghiệm về vấn đề nay, tuy nhiên cũng có một số ý kiến như sau:
    - Đây là bài báo có số lượng ca can thiệp lớn, được thực hiện ở một trong những trung tâm can thiệp thần kinh hàng đầu của Pháp và Thế giới với những chuyên gia giầu kinh nghiệm
    - Tuy nhiên, để đánh giá hay so sánh một phương pháp này với một phương pháp khác thì nghiên cứu có giá trị nhất là RTC. Còn trong nghiên cứu này, đây là retrospective study, không phải RTC.
    - Số lượng của SACE và None-SACE không thuần nhất
    - Không thấy đề cập đến thang điểm phân độ nặng giữa 2 nhóm (ví dụ Hunt-Hess scale) đặc biệt là phần chỉ định, lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
    -> việc đưa ra kết luận về hiệu quả, so sánh kết quả còn nhiều điều phải bàn.

    Vậy thì em mời Lưu vào đây trả nhời xem nào
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  10. #9
    thanhtam's Avatar
    thanhtam is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-32
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    157
    Cám ơn
    22
    Được cám ơn
    190/82
    Kinh nghiệm khám
    25

    Default

    Quote Originally Posted by daodanhvinh View Post
    Đây là một chủ đề rất sâu, để có câu trả lời chính xác và thỏa đáng nhất, xin mời liên hệ chuyên gia phụ trách và trực tiếp thực hiện
    Ts.Bs.Vũ Đăng Lưu
    Còn với cụ thể bài báo, mình làm về mạch ngoại biên, không chuyên về can thiệp thần kinh nên không có kinh nghiệm về vấn đề nay, tuy nhiên cũng có một số ý kiến như sau:
    - Đây là bài báo có số lượng ca can thiệp lớn, được thực hiện ở một trong những trung tâm can thiệp thần kinh hàng đầu của Pháp và Thế giới với những chuyên gia giầu kinh nghiệm
    - Tuy nhiên, để đánh giá hay so sánh một phương pháp này với một phương pháp khác thì nghiên cứu có giá trị nhất là RTC. Còn trong nghiên cứu này, đây là retrospective study, không phải RTC.
    - Số lượng của SACE và None-SACE không thuần nhất
    - Không thấy đề cập đến thang điểm phân độ nặng giữa 2 nhóm (ví dụ Hunt-Hess scale) đặc biệt là phần chỉ định, lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
    -> việc đưa ra kết luận về hiệu quả, so sánh kết quả còn nhiều điều phải bàn.

    Tôi cũng cố gắng tìm kiếm nhưng tìm không ra một RCT nào về chủ đề này cả. Một nghiên cứu khác cũng so sánh hai phương pháp nhưng cũng chỉ là hồi cứu. Các chuyên gia có thể tìm giúp được không ạ?

  11. #10
    mitdac's Avatar
    mitdac is offline Sinh viên Y3 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-77
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    83
    Cám ơn
    5
    Được cám ơn
    52/27
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Đề nghị bác drchinh đổi lại tiêu đề nhé. Bài này chủ yếu nói về can thiệp mạch, bác để dành cho em chủ đề phẫu thuật nhé, em đang edit lại để "góp vui" với các bác ạ

Page 1 of 2 12 LastLast

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 27-05-14, 23:13

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •