Results 1 to 4 of 4

Thread: Dụng dược trong "Thương hàn luận": nghiên cứu và thực tiễn

  1. #1
    minhanh1288's Avatar
    minhanh1288 is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-7881
    Cấp phép ngày
    Dec 2013
    Bệnh nhân
    4
    Cám ơn
    1
    Được cám ơn
    0/0
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default Dụng dược trong "Thương hàn luận": nghiên cứu và thực tiễn

    Đây là bài em dịch từ sách "Thương hàn luận: lí luận và thực tiễn" của Nhà xuất bản Vệ sinh nhân dân 2009, chủ biên Hác Vạn Sơn (Trung Y Dược Bắc Kinh) và Lý Trại Mỹ (Trung Y Dược Quảng Châu). Phần dịch này nằm trong Chương 5, phần thứ nhất (từ trang 217-219) nói về sắc thái riêng về cách dùng thuốc trong Thương hàn luận, các phần sau khi nào dịch xong em sẽ up lên cho các bác tham khảo. Bản dịch của em có thể có nhiều chỗ còn sai sót mong các bác góp ý, em sẽ up lên cả ảnh bản tiếng trung để bác nào muốn tham khảo nguyên tác thì có thể xem.
    Các bác có thể xem trực tiếp hoặc tải về

    File tiếng trung: xem và download
    File word bản dịch: xem và download (trong bản word em có một số chú thích ở dưới để làm rõ một số chỗ)

  2. #2
    minhanh1288's Avatar
    minhanh1288 is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-7881
    Cấp phép ngày
    Dec 2013
    Bệnh nhân
    4
    Cám ơn
    1
    Được cám ơn
    0/0
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default

    DỤNG DƯỢC TRONG “THƯƠNG HÀN LUẬN”: NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN
    Trong tư tưởng triết học của văn hóa cổ đại Trung Quôc Nho, Đạo, Thích, các sách y dược cổ đại như “Hoàng đế nội kinh”, “Nan kinh”, phân biệt lí luận dược lý học của “Thương hàn luận” cung cấp cơ sở cho triết học, tài liệu thực tiễn về dược vật và trụ cột cho lí luận trung y, khiến cho “Thương hàn luận” trở thành lí pháp phương dược – nối thông các sách y học kinh điển.
    Dược vị dùng trong “Thương hàn luận” vốn không nhiều, nhưng trong sách lại bao hàm lí luận về dược lý học rất phong phú. Như liên quan đến bào chế dược vật, “Thương hàn luận” so với “Thang dịch kinh”, “Ngũ thập nhị bệnh phương”, về phương thức bào chế càng đa dạng, cũng càng tỉ mỉ hơn; về việc dùng lượng của dược vật, yêu cầu của “Thương hàn luận” đối với liều lượng của dược vật càng nghiêm khắc; về phương diện phối ngũ của dược vật, “Thương hàn luận” càng nhấn mạnh thuộc tính tương phản khi dùng cùng nhau của dược vật, đối với điều trị những bệnh chứng phức tạp càng có ý nghĩa tích cực.
    I. Dụng dược có sắc thái riêng
    Trương Trọng Cảnh trong việc dung hợp lí luận cơ bản của triết học cổ đại và trung y dược, kết hợp với thực tiễn lâm sàng đã hình thành một lí luận dùng thuốc đặc sắc riêng của mình. Sau khi thông qua phân tích cụ thể “Thương hàn luận” không khó phát hiện ra rằng, trong thực tiễn dùng thuốc của ông, không những đã kế thừa lí luận dùng dược một cách hợp lý, mà còn đề xuất nhiều hướng suy nghĩ về dùng thuốc và phương pháp biện chứng luận trị dùng thuốc một cách sáng tạo, làm phong phúc thếm lí luận dùng thuốc của trung y dược. Khái quát lại, chủ yếu biện hiện ở mấy mặt đặc sắc sau:
    1.Biện luận theo bệnh để dùng dược[1]
    “Thương hàn luận” tuy là sách chuyên về biện chứng luận trị, sử dụng dược vật phần nhiều dựa vào chứng để dùng, nhưng trong đó cũng không phải không có các ví dụ về việc biện luận theo bệnh để dùng dược. Như trong phần luận về dùng Ma hoàng định suyễn, Nhân trần trị hoàng đản, Bạch đầu ông chỉ lị…đều là ví dụ cụ thể về việc Trương Trọng Cảnh kế thừa kinh nghiệm sử dụng dược cơ bản của tiền nhân để dùng vào biện luận theo bệnh để dùng dược. Nội dung có liên quan tuy rằng không nhiều, nhưng thể hiện đầy đủ cách suy nghĩ của Trương Trọng Cảnh trong việc kế thừa những kinh nghiệm cơ bản của tiền nhân về biện luận theo bệnh dùng thuốc.
    2.Biện chứng dụng dược[2]
    Ngoài biện bệnh dùng thuốc , quy tắc dụng dược đặc sắc riêng của Trọng Cảnh là biện chứng dụng dược, đây là nội dung vốn do Trọng Cảnh trong quán trình sử dụng dược sáng tạo nên. Phương pháp và nguyên tắc dụng dược này căn bản có sự khác biệt với nội dung tương đương trong Bản thảo trước kia. “Thần Nông bản thảo kinh” tuy rằng có mô tả về dược tính, phạm vi điều trị của dược vật, nhưng thiếu sự tìm hiểu về dụng dược cơ bản. “Thương hàn luận” trở thành quyển sách chuyên về biện chứng luận trị, đề xuất lí luận mới về mặt biện chứng cơ bản để dụng dược, hình thành cách tư duy đặc sắc về chọn dược để lập pháp theo chứng.
    Biện chứng dụng dược trong “Thương hàn luận” vô cùng phong phú, nói khái quát lại, chủ yếu thể hiện ở mấy mặt sau: đầu tiên nhấn mạnh việc xem xét bệnh chứng nặng nhẹ, hoãn cấp rồi chọn dược vật tương ứng, nhờ đó mà chữa các bệnh chứng thích hợp càng hiệu quả.[3]Ví như Tứ nghịch thang và Can khương Phụ tử thang cùng trị Thận dương bất túc, nhưng phương của tiền nhân dùng Cam thảo, chủ yếu để điều hòa tính tân táo của Khương, Phụ, làm tăng tác dụng cam hoãn bổ ích, đối với điều trị các chứng thận dương hư nặng càng thích hợp; ngược lại, phương của đời sau không dùng Cam thảo, lực của cam hoãn không đủ, mà tân tán có thừa, thích hợp với các chứng thận dương hư nhẹ, vì thế nên một vị thuốc có sự thay đổi, tác dụng điều trị vốn có với các chứng hoãn cấp, nặng nhẹ giống như bầu trời với mặt đất, hiện ra rõ ràng mối quan hệ giữa dùng thuốc và bệnh chứng nặng nhẹ hoãn cấp. Ngoài ra, bất kể loại thuốc nào trong lúc điều trị bệnh chứng tương ứng đều có thể thông qua phối ngũ hợp lý để đạt được mục đích biện chứng dụng dược, như Hoàng cầm phối với Hoàng liên, nặng về thanh nhiệt, nếu xuất hiện hàn nhiệt thác tạp, lại có thể dựa vào Hoàng cầm phối Can khương tân khai khổ giáng. Chứng hậu không giống nhau, ngoài việc nên cân nhắc chọn dược vị, còn phải chú ý tới giá trị tuyệt đối của liều lượng thuốc cho đến tỉ lệ tương hỗ giữa các vị thuốc, ví như phương có thể thể hiện ý nghĩa tổng thể của thuốc sử dụng thay đổi theo chứng. Ví dụ Ma hoàng, Thạch cao lượng dùng thay đổi trong những bệnh chứng khác nhau, và hai loại này khi kết hợp để điều trị những bệnh chứng khác nhau sự thay đổi về tỉ lệ liều lượng trong phương đều không phải không thể hiện cách nghĩ này.
    Tóm lại, dụng dược trong “Thương hàn luận” chủ yếu dựa vào chứng, thông qua biện chứng phân biệt thuộc tính của bệnh chứng, đề xuất một cách sáng tạo cách dụng dược “chứng biến dược cũng biến”. Ông khởi xướng việc không cố chấp vào biểu hiện ra của bệnh, cách suy nghĩ về dùng thuốc tập trung vào bộ vị bị bệnh, thuộc tính của chứng hậu, mức độ nặng nhẹ của bệnh, mâu thuẫn chủ yếu và quy luật chuyển biến của bệnh, khiến cho lí luận về sử dụng trung dược càng toàn diện, có hệ thống, càng tăng thêm giá trị chỉ đạo, tạo thành một khâu quan trọng trong lí luận biến chứng luận trị.
    3.Biện luận theo triệu chứng để dùng dược[4]
    “Thương hàn luận” vẫn lưu lại khá nhiều các bằng chứng về biện luận theo “chứng”[5] để dùng thuốc. Có thể thấy rằng, dựa vào “chứng” dùng thuốc là bộ phận nguyên thủy nhất của lí luận dùng thuốc. Trọng Cảnh trong “Thương hàn luận” không chỉ kế thừa nhiều những kiểu mẫu về dùng thuốc, mà còn dựa trên nền tảng cơ bản ban đầu có những bổ sung tương ứng, khiến cho lí luận về biện chứng dùng thuốc càng thêm phong phú, càng có ý nghĩa thực tiễn lâm sàng cụ thể, lại không phải là một phiên bản đơn giản “đầu thống y đầu, cước thống y thống”[6]. Nghiên cứu tỉ mỉ các ví dụ biện chứng dùng thuốc của “Thương hàn luận” không khó để phát hiện ra mấy đặc trưng sau:
    Đối với thuộc tính của chứng trạng không thêm biện chứng phân biệt, mà theo biểu hiện của chứng hậu để dùng thuốc. Như trong nhiều chú ý phía sau điều về phương thuốc thấy ẩu thổ thêm Sinh khương, ho thêm Ngũ vị tử và Can Khương.. đều là ví dụ tiêu biểu tùy theo triệu chứng mà dùng thuốc.
    Đối với cơ chế “chứng” (症:triệu chứng)” , chọn thuốc theo “chứng”, là nguyên tắc dụng dược sơ sài nhất, Trọng Cảnh trong thực tiễn lâm sàng, đã đề xuất một cách sáng tạo, tuy là đối “chứng”, nhưng lại là mạch suy nghĩ về dụng dược sau khi nghiên cứu kỹ thuộc tính của chứng trạng mới tiến hành chọn thuốc tương ứng. Dựa vào biểu hiện của chứng hậu làm đối tượng để phân biệt, thông qua quá trình biện chứng, làm rõ thuộc tính cơ bản của chứng trạng mới tiến hành dụng dược. Ví dụ trong phần chú ý của phương thuốc đồng thời xuất hiện triệu chứng đau bụng, nhưng dùng thuốc để điều trị lại phân ra dùng Phụ tử, Thược dược; đồng thời xuất hiện tiểu tiện không lợi, lại phân biệt dùng Quế chi, Phục linh. Nội dung này đều là ví dụ thực tế dựa vào triệu chứng làm manh mối, dựa vào biện chứng để dùng thuốc. Đây là một thiết lập dựa trên biện chứng cơ bản của quy luật dùng thuốc linh hoạt, trở thành nội dung sáng tạo của Trọng Cảnh trong lí luận dùng thuốc, sự tồn tại của nó đưa ra những gợi ý cho thế hệ sau khi gia giảm theo triệu chứng.
    4.Phối ngũ trong dùng thuốc
    “Thương hàn luận” rất ít khi chỉ dùng một vị thuốc, dược vật đa phần xuất hiện dưới hình thức phối ngũ. Trương Trọng Cảnh trên cơ sở kế thừa lí luận cơ bản của tiền nhân về dùng thuốc, kết hợp với bệnh chứng, làm phong phú thêm nội dung phối ngũ vốn có, sáng lập hình thức phối ngũ mới, phát triển thêm ứng dụng của phối ngũ, hình thành lí luận phối ngũ dược vật đặc sắc riêng của mình.
    “Thương hàn luận” trong sử dụng dược vật, ngoài vận dụng mối quan hệ hiệp đồng vốn có làm tăng hiệu quả của phối ngũ tương tu, tương sử , còn vì những bệnh chứng phức tạp tương tức mà tạo lập những cặp thuốc tương phản tương thành càng có giá trị ứng dụng, việc phối ngũ này thông qua việc lợi dụng sự tương phản về tính vị hoặc công năng, từ đó tổ hợp thành những cặp thuốc có đặc trưng tương chế, phát huy tác dụng khống chế lẫn nhau, điều tiết bổ sung cho nhau. Như Hoàng liên và Can khương, tính vị tương phản, sau khi phối ngũ có tác dụng tương thành; lại như Mạch đông và Bán hạ, tuy rằng công năng tương phản, nhưng thông qua phối ngũ có thể đạt được hiệu quả tương tế, tương tá hỗ dụng để nhuận táo.
    Đồng thời “Thương hàn luận” trở thành sự cần thiết của điều trị bệnh chứng, lại đối với phối ngũ cấm kỵ “tương sát” trong thất tình của quy luật phối ngũ truyền thống đã làm ứng dụng của nó linh hoạt thêm, biến cái hại thành cái lợi, như Qua đế[7] và Đậu xị[8], khổ tả phối ngũ với toan liễm, toan khổ kích thích nhau dẫn đến nôn nhiều[9], dùng để chữa bệnh thực chứng phía trên. Sự phối ngũ này được ứng dụng linh hoạt làm phong phú và phát triển lí luận phối ngũ của dược vật.
    Ngoài ra, Trọng Cảnh trong quá trình dùng thuốc càng chú ý tới thay đổi liều lượng của dược vật, thông qua thay đổi giá trị tuyệt đối của liều lượng thuốc hoặc tỉ lệ phối ngũ giữa các vị thuốc, có sự thay đổi về tác dụng điều trị và chủ trị, là đòi hỏi thích hợp với các chứng bệnh phức tạp rối rắm[10]. Như phối ngũ Quế chi và Thược dược, tăng thêm lượng Quế chi hoặc Thược dược, càng có thể đạt được mục đích này. Thông qua nghiên cứu liều lượng dùng thuốc trong lí luận dụng dược, làm cho hiểu biết về phối ngũ càng được sâu rộng.
    5.Một thuốc nhiều tác dụng
    “Thương hàn luận” không những giúp hiểu biết đầy đủ đặc trưng mang tính đa dạng về tính vị và công năng của dược vật, mà trong quá trình ứng dụng linh hoạt vào điều trị những bệnh khác nhau đã hình thành mô thức “một thuốc nhiều tác dụng”. Tuy rằng bệnh tình trên lâm sàng rối rắm phức tạp, Trọng Cảnh lại có thể chỉ dựa vào ít vị thuốc nhất mà đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất, vì thế mà cấu thành một đặc sắc về ứng dụng dùng thuốc nữa.
    Nội dung thứ nhất, chủ yếu thể hiện ra mấy đặc trưng: dựa vào “một thuốc nhiều tác dụng”, trong khi cố hết sức chọn thuốc chữa các chứng hậu phức tạp, nhiều chứng hậu có một vị thuốc nhất định có hiệu quả điều trị, tiến hành trị liệu trên nhiều mặt, trong đó dựa vào nhóm thuốc có biểu hiện hiệu quả nhất. Vì vậy dùng thuốc, không chỉ có thể nhằm vào bản thân một bệnh để điều trị tương ứng, mà còn có thể chú ý đến nhiều vấn đề, có đặc điểm lượng thuốc dùng ít nhất nhưng hiệu quả thu được vẫn mạnh mẽ. Ví như Cát căt thang trị Thái dương biểu chứng chưa được giải, nhập lý hóa nhiệt, trường nhiệt mà đi ngoài, kỳ thực nhóm thuốc Cát căn chủ yếu nhập kinh Dương minh, vị cam tân hàn, bên ngoài tán tà chưa giải ở cơ biểu, bên trong thanh lý nhiệt là Dương minh, thăng phát thanh dương chỉ tả, chỉ có một vị thuốc mà 3 tác dụng tuyệt vời, chọn dùng cát căn để chữa chứng nên dùng, có thể giảm đi một tá sứ, dẫn kinh của phối ngũ dược vị. Lại như trong phương Tứ nghịch thang sử dụng Cam thảo, không chỉ có thể khống chế được độc của Phụ tử, mà còn có thể có tác dụng điều hòa các vị thuốc, làm hoãn cương táo, bổ ích tỳ vị… là một dạng thể hiện đặc trưng “một thuốc nhiều tác dụng”.
    Sau nữa, Trọng Cảnh còn sử dụng đầy đủ đặc tính về tính vị cố định của dược vật và tác dụng đối với các tạng phủ kinh lạc khác nhau của dược vật, thông qua phối ngũ hợp lý, và dược vật của ông hình thành nên tác dụng mới, như Hoàng cầm trong Tả tâm thang không chỉ có tác dụng thanh nhiệt, còn có thể hợp dụng với thuốc có vị tân tạo ra tác dụng đặc trưng tân khai khổ giáng, cùng nhau điều trị báng chứng hàn nhiệt thác tạp.
    Ngoài ra, Trọng Cảnh thậm chí còn sử dụng toàn bộ hình thức kết hợp dược của dược vật, dựa vào hiệu quả của thực tiễn “một thuốc nhiều tác dụng”, như trong phương Đào hoa thang, Xích thạch chi[11] lấy một nửa sắc, một nửa sau này uống bổ sung, trước chú trọng vào ôn sáp, điều lý từ tổng thể, sau đó chú trọng vào cố sáp, từ cục bộ để điều trị, đó là cùng một loại thuốc, cách dùng khác nhau, sẽ đưa đến những hiệu quả tuyệt vời khác nhau làm ví dụ chứng minh.
    Ngoài nội dung đã nói ở trên, trong “Thương hàn luận còn nhiều chỗ vận dụng một loại dược vật chữa các bệnh chứng khác nhau, trong số các ví dụ về hiệu ứng khác nhau của dược vật, chính là cái được gọi là cùng một loại dược mà điều trị khác nhau[12]. Công năng của dược, Bản thảo học tuy rằng có kết luận, nhưng bệnh chứng tuy thiên biến vạn hóa, không có dược vật nào có công năng cố định như ban đầu mà có thể ứng đối, tùy theo chứng mà biến. Như Đại hoàng là chủ dược của Tam thừa khí thang, có tác dụng công hạ thông tiện, nhưng trong phương Nhân trần cao thang dùng Đại hoàng chỉ có 2 lượng, tác dụng công hạ biến thành thông phủ tả nhiệt, là con đường để thấp nhiệt tà ra ngoài; thang Đại hoàng Hoàng liên Tả tâm thang chủ trị khí báng, bỏ qua cách sách thuốc thông thường, lấy nồi thuốc đang sôi to đem ngâm nước, là lấy cái khí hàn lương để thanh nhiệt, không dựa vào vị đắng để tả hạ, do đó, tuy cùng là Đại hoàng, vì phương pháp sử dụng, phối ngũ và nhằm vào bệnh chứng khác nhau, điều khác biệt này cực kỳ rõ ràng, nên sự khác biệt thích hợp này cũng tạo ra đặc trưng “ một thuốc nhiều tác dụng”.
    Do vậy, thông qua nghiên cứu những ứng dụng dược vật làm mẫu trong “Thương hàn luận”, có thể giúp cho nâng cao ứng dụng dùng dược vật; đồng thời mô thức về tư duy ứng biến này đáng để làm gương cho mạch tư duy và phương pháp để giải thích chế phát bệnh và cơ chế điều trị đối với những bệnh liên quan.
    6.Dược có hiệu quả mạnh[13] riêng:
    Các phương thuốc trong “Thương hàn luận” có lịch sử ứng dụng lâu dài, để có thể truyền thừa cho đến đời nay, một trong những nguyên nhân quan trọng là đã khởi xướng ra quy tắc “dược chứng đối ứng”[14]. Chủ yếu là dùng thật chính xác loại dược, mới có thể khiến cho tác dụng của phương thuốc hiện ra rõ rệt. Trong sách các ví dụ loại này khá nhiều, chủ yếu bao gồm: thuốc chuyên để chữa một loại bệnh nào đó, như dùng Quế chi để chữa chứng Bôn đồn, dùng nhân trần để chữa Hoàng đản…; ngoài ra thuốc chuyên dùng để trị một loại chứng nào đó, như Phụ tử dùng để chữa chứng tê do hàn thấp, dùng cát căn để chữa lưng gáy cứng... Nhờ đó có thể thấy, điểm đặc sắc quan trọng nhất về dụng dược trong “Thương hàn luận” là giỏi về việc trên cơ sở biện luận bệnh, biện luận chứng, chọn thuốc có tác dụng nhất rồi tiến hành trị liệu tương ứng.
    Tổng hợp lại những nội dung trên, quá trình dụng dược trong “Thương hàn luận”, hiện ra khá nhiều nội hàm ly luận về dụng dược đặc sắc riêng. Phần lớn những quy luật dụng dược đắc sắc này đều do Trọng Cảnh sáng tạo ra, nó không chỉ là kế thừa mà làm phong phú thêm lý luận dụng dược từ Đông Hán về trước, mà còn là mở ra một kỷ nguyên mới về nghiên cứu dụng dược cho sau này.



    [1]辩病用药: biện luận, phân biệt theo bệnh để dùng dược, có ý nghĩa là dùng thuốc theo triệu chứng chứ không phải biện chứng.

    [2] 辩证用药: có hai chữ chứng khác nhau: “证” (chứng: có nghĩa là chứng minh, chứng tỏ) và “ 症” ( chứng trong bệnh chứng). Trong trường hợp này, là sử dụng chữ “证”, biện chứng này cũng chính là hay dùng trong cụm từ “Biện chứng luận trị”

    [3]以此来更好的适应病症治疗:

    [4] 辩症用药: Trong mục này từ chứng đa phần là “chứng 症” chỉ chứng bệnh, triệu chứng

    [5] 症: triệu chứng

    [6] 头痛医头,脚痛医脚:

    [7]瓜蒂: Qua đế: là cuống khô của quả dưa (Cucumis melo L.), mùa hạ lúc dưa chín thì hái lấy cuống đế của dưa, phơi âm can, dùng sống hoặc sao. Dược tính: khổ, hàn, có độcm quy vị kinh. Công năng: dũng thổ đàm thực, khứ thấp thoái hoàng. Ứng dụng điều trị: phong đàm, thực tích đình trệ, trúng độc thức ăn, thấp nhiệt hoàng đản. Liều dùng: thuốc sắc 2,5-5g, thuốc hoàng 1.3-1g/lần uống. Chú ý đối với các trường hợp có thai, thể trạng suy, thổ huyết, vị hư hoặc không có thực chứng.

    [8] 豆豉:(Hán việt: Đậu thị) nhưng nếu dịch sang Tiếng Việt chính là Đậu xị do khi phiên âm sang có sự sai lệch về cách phát âm.

    [9] Nguyên văn âm Hán Việt là “Dũng thổ”: chỉ nôn ào ạt, nôn nhiều, mạnh



    [11] Xích thạch chi:

    [12] 药同而治异

    [13] 药专效宏:

    [14] 药证对应( Dược chứng đối ứng):

  3. #3
    minhanh1288's Avatar
    minhanh1288 is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-7881
    Cấp phép ngày
    Dec 2013
    Bệnh nhân
    4
    Cám ơn
    1
    Được cám ơn
    0/0
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default

    Ở trên bị sót chú giải về Xích thạch Chi: Thành phần chủ yếu là Al4(Si4O10(OH)8.4H2O), chủ yếu ở vùng Sơn Đông, Hà Nam, Giang Tô, Thiểm Tây, dùng sống hoặc thêm dấm chua để dùng. Dược vị: cam, toan, sáp, ôn; quy kinh Đại trường, Vị. Công năng: sáp trường chỉ tả, thâu liễm chỉ huyết, sinh cơ lành vết loét.

  4. #4
    oxama9x's Avatar
    oxama9x is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-13640
    Cấp phép ngày
    Sep 2015
    Bệnh nhân
    2
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    0/0
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default

    Càm ơn bạn đã chia sẽ thông tin bổ ích

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. [Cafe] Phản biện bài viết "Sản phụ chết bất thường tại bệnh viện"
    By benhngoisao in forum QUÁN CAFE NỘI TRÚ
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 29-09-16, 00:02

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •