Những lúc rỗi rãi, tôi thường đọc y thoại y án để biết bệnh lý xưa nay cách nhìn cách chữa có gi khả thủ mà học thêm lấy được phần nào chăng. Gần đây có đọc cuốn "Cuộc đời và sự nghiệp của người thợ già trị bệnh Định Ninh Lê Đức Thiếp", thấy chép một trường hợp bệnh vào năm 1926 như sau (dưới đây "tôi" là cụ Lê Đức Thiếp tự xưng):

NGƯỜI BỆNH

Ông Nguyễn Văn Luận, khoảng ngoài 50 tuổi, ở làng Lác Môn Trại, tổng Ninh Cường, tỉnh Nam Định. Khi ấy, thân hình ông hồng hào khỏe mạnh, tính tình cương trực, mưu lự thâm sâu. Nhà ở rộng lớn, có vườn, có ao, có sân cây rậm mát. Ông là chức tuần xã ở trong làng ấy, thường hay trà tửu, cũng nhiều tuần tráng dưới tay trong những đêm khuya đi tuần phòng trong làng, ngoài ruộng. Địa phương ấy thường gọi ông là xã Luận. Ông ít có bệnh tật, chỉ có tiếng nói hay khan khàn và hướng đi trông có vẻ hơi ưỡn ngực ra.

BỆNH CHỬNG

Mùa hè năm ấy, ông mắc bệnh ho, nóng lạnh từng cơn, khát nước, tức ngực. Sau, bệnh nặng hơn, mỗi chiều một cơn nóng lạnh rồi nóng rất dữ, môi miệng khô, khát nước, người buồn phiền, da thịt khô, lại khi xuất mồ hôi nhiều, nhâm nhẩm đau nơi huyệt Trung Phủ, tức huyệt Phế Mộ ở đốt xương ngực thứ 3 trên vú, tiểu tiện đỏ ít, đại tiện táo, ho có khi khạc ra máu mà phát thở xuyễn, ngày đêm cứ phải ngồi ôm chồng gối thật cao để ngồi gục đầu vào mà ho, mà thở, chẳng cho nằm xuống chút nào, ăn đôi chút cháo, ngủ vài phút lại ho.

SỰ VIỆC

Ông xã Luận bị mắc bệnh ấy, đã uống nhiều thuốc khu phong, thanh phế, lương phế, giải nhiệt độc của các cụ lang kéo dài gần một tháng mà không khỏi. Ông cho người đến mời thân phụ tôi ra chẩn trị. Khi ấy, thân phụ tôi trọ ở nhà ông xã Thạch (Nguyễn Văn Thạch) ở làng ấy đã làm thuốc 5-6 năm nổi tiếng cả huyện. Người ta thường gọi thân phụ tôi là “cụ Điều Huệ”. Tôi theo học và hầu hạ.

Thân phụ tôi đến xem và bảo: “Mạch trì sác, ho có đàm lẫn máu mà hơi thở hôi khó trị lắm, có lẽ bệnh này là phế ung”. Đoạn cụ sai tôi: Mầy đem vài chục hạt đậu, vàng hoặc đậu xanh đến nói: Thầy con nói ông ăn vài hạt đậu này xem có ngon không rồi thầy con cắt thuốc. Ông ăn khen ngon (tôi về nói lại).
Thân phụ tôi bảo: Đó là phép thử xem có phải nội ung không, ăn mà chê đậu tanh thì không phải nội ung, ăn mà khen ngon không biết mùi đậu thì đúng là ông xã này mắc bệnh nội ung rồi, mà đó là phế ung. (Kim lý thang ở Y Tông Kim Giám ngoại khoa quyển 7).

PHƯƠNG THUỐC

Kim lý thang:

- Cá chép: 1 con (vảy cá màu vàng, cá còn sống, nặng chừng 4 lạng tàu).
- Xuyên bổi mẫu: 2 đồng cân (tìm thứ chính, tán thành bột nhỏ).

- Cách chế: cá đế nguyên cả vảy, lấy giấy bồi hay bông gòn lau sạch, lau khô, mổ bỏ hết ruột gan, lại lau bụng cá thật khô (nhớ đừng rửa nước). Đem cả số bột Bối mẫu đã tán nhỏ phết vào bụng cá, lấy chỉ quấn quanh cho bột Bối mẫu khỏi rơi vãi ra. Bỏ cá vào xoong, nồi nào nho nhỏ, liệu cho vừa con cá. Lấy gần đầy chén nước tiểu đứa trẻ con khỏe mạnh đổ vào nồi cá, lật đi lật lại tẩm cho ướt đều con cá, lấy vung đậy nồi cá lại, bỏ nồi cá ấy vào nồi lớn, cho nước lã vào gần ngập nồi cá nhỏ ở trong, bắc lên bếp đun (tức là nấu cách thủy). Đun một lát hễ nước sôi mạnh, mở nồi cá xem, khi thấy mắt cá lồi ra thì để chừng vài phút nữa, liệu chừng cá chín đem nồi cá ra. Nhẹ tay mang con cá ra ngoài, cạo bỏ hết vảy, xương lớn, xương nhỏ và xương đầu, nghĩa là chỉ lấy nguyên có thịt của cá, bỏ thịt cá vào nồi nước tiểu vừa nấu cá ban nãy, đun lên cho nước tiểu và thịt cá nóng già lên.

Đem chia ra ba phần mà ăn trong một ngày cho hết cả cá và nước (nếu nước tiểu trong nồi cá còn quá ít thì chế thêm vào ít nước tiểu mới nữa cũng được).

Nhớ rằng không nên cho bệnh nhân biết là thuốc có nước tiếu, vì để họ biết, có thể họ sợ mà không dám ăn. Nhưng bệnh nhân khi ấy ăn uống ít có biết mùi gì vậy.

SỰ VIỆC (tiếp)

Tôi tìm và tự chế xong, đem lại nói với bà xã: Thuốc này đem chia làm 3 lần cho ông ăn, từ giờ đến chiều nên ép ông ăn hết, thuốc này không để được lâu mà không ăn hết thì không đủ sức trị bệnh. Nói xong chính tay tôi xúc cho ông ăn một lần.

Khi tôi ra về, tôi nói với bà xã: Sáng mai cụ tôi đến xem lại bệnh cho ông nhà.

Sáng hôm sau, cụ tôi đến thăm, tôi cũng đi theo. Đến nơi, bà xã vui mừng nói ngay: Thưa cụ, ông xã nhà tôi uống hết số thuốc ấy vài giờ sau mửa ra hàng chậu máu và mủ, vừa đen vừa đỏ hôi thối cả phòng trong phòng ngoài. Xong cụ đã nằm xuống được, và bây giờ nằm yên và thở đều.

Cụ tôi mừng, muốn vào xem ngay ra sao, nhưng không dám vào, căn phòng ông nằm mỗi bề 5 mét mà đóng kín cửa hôi thối không thể tả. Tôi và con ông ta, phải sấn vào mở hết các cửa, lấy hàng trăm cây nhang đen, nhang xạ đốt lên cắm la liệt trong phòng.

Sau giờ lâu, cụ tôi phải lấy khăn bịt miệng mũi mới dám vào xem mạch. Khi ra cụ bảo tôi: Tốt lắm, mạch đã trì hoãn, tôi cũng vào xem và rờ vào người ông, da dẻ cũng nhuần.Ông nói nhỏ với tôi: Cám ơn cụ và cậu, cho tôi thuốc nữa đi.

Sau đó ông uống Ninh phế cát căn thang độ 15 thang và Thanh kim ninh phế hoàn 1 tễ (2 bài thuốc này cũng ở mục Phế ung kim giám quyển 7). Rồi ông uống tiếp Lục vị hoàn một tễ.

Khỏe mạnh hoàn toàn.