Results 1 to 1 of 1

Thread: Điều trị và dự phòng nhiễm ấu trùng sán lợn

  1. #1
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default Điều trị và dự phòng nhiễm ấu trùng sán lợn

    ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LỢN

    Karin Leder, MBBS, FRACP, MPH, DTMH
    Peter F Weller, MD, FACP
    Uptodate 15.1

    Người dịch: ThS. BS. Nguyễn Bùi Đức

    BRIEF REPORT:
    Clin Infect Dis.: Acute febrile myalgia in Vietnam due to trichinellosis following the consumption of raw pork
    PubMed: Acute febrile myalgia in Vietnam due to trichinellosis following the consumption of raw pork

    >>> DỊCH TỄ HỌC VÀ CÁCH LÂY TRUYỀN CỦA ẤU TRÙNG SÁN LỢN
    >>> ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐOÁN NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LỢN

    NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LỢN KHÔNG TRIỆU CHỨNG — Rất nhiều bệnh nhân nhiễm ấu trùng sán lợn không có triệu chứng nào. Điều trị các bệnh nhân này hoàn toàn khác với các bệnh nhân có triệu chứng.

    Nếu một bệnh nhân được tình cờ phát hiện tổn thương kén đã thoái hóa trong não nhưng hoàn toàn không triệu chứng thì hiện chưa có bất cứ bằng chứng nào cho thấy điều trị diệt ký sinh trùng đem lại lợi ích [1].

    Các bệnh nhân chỉ có kén dưới da hoặc kén trong cơ thường không cần điều trị đặc hiệu. Nếu chỉ có 1 kén thì có thể cân nhắc cắt bỏ. Tuy nhiên các bệnh nhân này cần được khám kỹ xem có NCC hay không.

    NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LỢN CÓ TRIỆU CHỨNG NGOÀI HỆ THẦN KINH — Nhiễm ấu trùng sán lợn ngoài hệ thần kinh thường gặp ở mắt, cơ và tổ chức dưới da.

    Mắt — Nhiễm ấu trùng sán lợn ở mắt là một trong những bệnh ký sinh trùng ở mắt hay gặp nhất [2]. Trong một nghiên cứu 45 bệnh nhân nhiễm ấu trùng sán lợn ở bán phần sau của mắt, tất cả các bệnh nhân đều được phẫu thuật [3]. Mọi ca phẫu thuật đều lấy được ấu trùng sán lợn ra khỏi mắt, võng mạc được gắn lại ở 87% trong số 22 nhãn cầu và 67% phục hồi được thị lực.

    Một ca bệnh nhiễm ấu trùng sán lợn ở thần kinh thị giác đã được báo cáo [4]. Bệnh nhân được điều trị bằng albendazole và corticoid với đáp ứng ngoạn mục.

    Nhiễm ấu trùng sán lợn ở các cơ ngoại nhãn cầu có thể biểu hiện bằng nhìn đôi và đau mắt [5]. Trong số 35 ca có kén ở cơ xung quanh nhãn cầu, tất cả đều tiến triển tốt với albendazole và corticoid,chỉ có 6 ca cần phẫu thuật.

    Dưới da và cơ — Nếu các kén dưới da hoặc kén cơ gây triệu chứng do phản ứng viêm, có thể phẫu thuật loại bỏ hoặc điều trị bằng thuốc kháng viêm. Phẫu thuật là một lựa chọn tốt khi chỉ cơ 1 kén.

    NHIỄM ẤU TRÙNG SÁN LỢN HỆ THẦN KINH CÓ TRIỆU CHỨNG — Phương pháp điều trị tốt nhất đối với các bệnh nhân NCC có triệu chứng phải tùy từng bệnh nhân, số lượng và vị trí các kén và các biến chứng đã xảy ra [44]. Một số thể của NCC có nguy cơ biến chứng và tử vong cao, ví dụ các thể ngoài nhu mô não (kén dưới nhện, kén trong não thất, kén tăng dần kích thước, hoặc viêm não thể kén chum)

    Các hướng dẫn điều trị cũng đã được ban hành, tuy vậy còn nhiều điểm tranh cãi [1]. Các biện pháp điều trị có thể dùng là:
    - Điều trị triệu chứng bằng thuốc chống co giật
    - Điều trị diệt sán bằng albendazole hoặc praziquantel, thường kèm theo corticoid.
    - Phẫu thuật

    Bệnh nhân NCC cần được theo dõi kỹ để phát hiện các tình trạng xấu đi về lâm sàng và để đảm bảo rằng không có chẩn đoán nào khác.

    Chống co giật —Bệnh nhân NCC bị co giật hoặc có nguy cơ co giật tái phát cần được điều trị thuốc chống co giật; đã có nhiều kinh nghiệm lâm sàng dùng carbamazepine hoặc phenyntoin. Thời gian sử dụng thuốc chống co giật vẫn còn chưa thống nhất và các nghiên cứu đang nhằm vào câu hỏi này.

    Nguy cơ co giật cao nhất khi các tổn thương đang thoái hóa và được bao quanh bằng mô viêm. Liệu kén mất đi có làm bớt co giật không vẫn còn chưa được kiểm chứng. Khi tổn thương đã vôi hóa và bất hoạt, chúng vẫn có thể là ổ gây co giật.

    Thuốc chống co giật nên được sử dụng cùng với thuốc diệt sán ở những bệnh nhân có tiền sử co giật. Chúng tôi khuyến cáo dùng thuốc chống co giật trong 1 năm sau khi các tổn thương hoạt động đã hết, sau đó thử dừng thuốc co giật xem bệnh nhân đáp ứng ra sao. Nếu bệnh nhân lại co giật, chúng tôi duy trì thuốc lâu dài. Thuốc chống co giật cũng tốt cho các bệnh nhân có nhiều kén mặc dù các bệnh nhân đó chưa bao giờ co giật.

    Diệt sán —Còn nhiều câu hỏi chưa được trả lời về điều trị diệt sán, bao gồm khi nào thì dùng, dùng thuốc nào và ở bệnh nhân nào. Thuốc diệt sán thúc đẩy quá trình biến mất của kén [6-8], nhưng liệu chúng có ích thật sự hay không thì vẫn còn tranh cãi. Rõ ràng là thuốc diệt sán không phải luôn được chỉ định, kể cả ở những bệnh nhân khẳng định NCC và có triệu chứng.

    Nguy cơ — Thuốc diệt sán có thể dẫn tới nhiều biểu hiện bất thường và tử vong, đặc biệt ở những bệnh nhân có nhiều kén. Điều trị ấu trùng sán lợn có thể dẫn tới các triệu chứng thần kinh nặng hơn do tăng phản ứng viêm quanh kén đang thoái hóa. Phản ứng viêm có thể nặng tới mức gây ra tàn tật hoặc tử vong cho bệnh nhân. Corticoid rất tốt trong những trường hợp này.

    Lợi ích — Lợi ích của điều trị ấu trùng sán lợn là thúc đẩy sự thoái triển của kén đang hoạt động và giảm nguy cơ co giật [1].

    Các nghiên cứu hiện đang mâu thuẫn giữa liệu thuốc diệt sán giúp kiểm soát cơn giật tốt hơn [9-12] hay thúc đẩy sự thoái triển của kén [6,9,13-16]. Không phải mọi nghiên cứu đều cho thấy lợi ích rõ rệt của thuốc diệt sán so với điều trị triệu chứng đơn thuần; tuy nhiên rất nhiều nghiên cứu không làm mù hoặc không có nhóm chứng, do đó dễ có sai số.

    Nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi có giả dược duy nhất cho tới nay được thực hiện trên 120 bệnh nhân có kén hoạt động trong não và co giật, được điều trị thuốc chống động kinh kèm theo hoặc albendazole (800 mg/ngày) + dexemethasone (6 mg/ngày trong 10 ngày) hoặc 2 giả dược [10]. Bệnh nhân được theo dõi trong 30 tháng hoặc tới khi họ không có cơn giật nào trong 6 tháng sau khi thuốc động kinh đã được giảm liều dần. Kết quả là:
    - Sự thoái triển của các tổn thương nội sọ nhiều hơn ở nhóm điều trị.
    - Số bệnh nhân co giật toàn thể giảm hơn ở nhóm điều trị; tuy nhiên không thấy lợi ích ở bệnh nhân co giật cục bộ.

    Nghiên cứu này đã đưa ra bằng chứng tốt nhất về hiệu quả của thuốc diệt sán. Hạn chế của nghiên cứu là các bệnh nhân đã được dùng thuốc động kinh trong một phần của thời hạn 30 tháng theo dõi. Ngoài ra, một số kén thoái triển thành dạng u hạt vôi hóa, tổn thương này lại tăng nguy cơ co giật.

    Liệu pháp tốt nhất cho ấu trùng sán lợn, bao gồm việc dùng lặp lại albendazole và dexamethasone, vẫn còn cần xác định thêm.

    Trong năm 2006, một meta-analysis tổng kết 11 nghiên cứu ngẫu nhiên đánh giá tác dụng của thuốc diệt sán lên kết cục và hình ảnh chụp não của các bệnh nhân NCC đã cho thấy [17]:
    - Tiến bộ rõ rệt về CDHA ở các bệnh nhân có điều trị, kể cả kén có ngấm thuốc và không ngấm thuốc
    - Tái phát co giật ở bệnh nhân có tổn thương ngấm thuốc xảy ra ở 14% bệnh nhân điều trị và 32% bệnh nhân không điều trị.

    Do nguy cơ tái phát co giật còn liên quan tới diễn biến mạn tính của bệnh và sự xuất hiện tổn thương vôi hóa, bệnh nhân khi đã hết co giật vẫn cần điều trị tiếp tục thuốc chống co giật [17].

    Số lượng kén —Thuốc diệt sán không làm thay đổi diễn biến tự nhiên của một kén. Điều này được mô tả trong các nghiên cứu sau:
    - Trong một nghiên cứu quan sát, 90/176 bệnh nhi với các kén đơn độc được chia ngẫu nhiên để điều trị albendazole. Sau 3-6 tháng theo dõi, không có sự khác biệt giữa bệnh nhi được điều trị và không điều trị về kích thước của tổn thương và sự thoái triển của tổn thương (91 vs 85%) [18].
    - Một nghiên cứu ngẫu nhiên mù đôi có giả dược ở Ấn Độ đã không thấy có sự khác biệt về sự thoái triển trên phim của các kén đơn độc 3 tháng sau điều trị albendazole so với nhóm không điều trị [16]. Các nghiên cứu khác ở Ấn Độ cũng cho kết quả tương tự [19,20].

    Các kết quả này cho thấy điều trị diệt sán là không cần thiết ở những bệnh nhân có 1 kén đơn độc. Một kén đơn độc là biểu hiện hay gặp ở một số vùng địa lý nhất định, ví dụ Ấn Độ [20,21].

    Các ngưỡng để điều trị diệt sán ở bệnh nhân có nhiều hơn 1 kén là hoàn toàn không bắt buộc. Chúng tôi đồng ý với cách tiếp cận sau[1]:
    - Bệnh nhân có ít hơn 5 kén có thể điều trị bằng thuốc diệt sán hoặc chỉ điều trị triệu chứng.
    - Bệnh nhân có 5-50 kén cần được điều trị diệt sán.
    - Nếu bệnh nhân có > 50 kén hoặc bệnh nhân viêm não do ấu trùng sán lợn, nguy cơ biểu hiện nặng do đáp ứng viêm là rất lớn nêu bệnh nhân cần được điều trị bằng corticoid hoặc corticoid+mannitol trước. Sauk hi phản ứng viêm, phù và/hoặc tăng ALNS đã giảm, lúc đó có thể dùng thuốc diệt sán.

    Loại kén — Điều trị còn phụ thuộc vào vị trí và loại kén

    - Các kén trong não thất thường gây biểu hiện nặng khi điều trị vì phản ứng viêm xảy ra trong một khoang hẹp. Điều trị nội khoa nên dành cho các bệnh nhân có các kén nhỏ nắm trong não thất bên do phản ứng viêm nếu xảy ra ở vị trí này cũng ít nguy hiểm hơn so với não thất 4. Kén trong não thất 4 cần được điều trị bằng phẫu thuật và corticoid. Phẫu thuật nội soi được khuyến cáo đối với mọi loại kén não thất khác; nếu không nội soi được thì mổ mở hoặc albendazole+corticoid. Chúng tôi khuyến cáo dùng corticoid vài ngày trước mổ.

    - Đối với các kén khổng lồ (>10cm), phẫu thuật và đặt dẫn lưu não thất thường là cần thiết khi có tăng ALNS. Tuy nhiên, một nghiên cứu trên 33 bệnh nhân có kén khổng lồ ở khoang dưới nhện và tăng ALNS cho thấy điều trị nội khoa bằng albendazole (có thể cần tới 4 đợt) kèm hoặc không kèm theo praziquantel đã đem lại kết quả tốt ở mọi bệnh nhân sau thời gian theo dõi là 59 tháng. [22]. Mặc dù nghiên cứu này kết luận rằng phẫu thuật là không cần thiết ở các bệnh nhân, 5 bệnh nhân đã phải phẫu thuật từ trước và 15 bệnh nhân đã phải đặt dẫn lưu não thất - ổ bụng.

    - Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào về điều trị sán trong khoang dưới nhện. Vai trò của thuốc diệt sán còn chưa rõ do phản ứng viêm tạo ra ở những bệnh nhân này có thể gây các hậu quả nặng nề, bao gồm tắc các mạch máu nhỏ ở màng mạch nho dẫn tới nhồi máu não [23]. Tuy nhiên, một số báo cáo ca bệnh với việc sử dụng corticoid mồi, thuốc diệt sán và dẫn lưu não thất đã đem lại kết quả khả quan [8]. Thể bệnh NCC này thường kèm theo nhiều biến chứng, ví dụ hiệu ứng khối, não úng tủy thể lưu thông, viêm mạch máu dẫn tới đột quỵ và viêm màng não vùng nền sọ [24]. Vì vậy, đa số các chuyên gia coi kén trong khoang dưới nhện là một chỉ định dùng thuốc diệt sán. Tuy vậy liều tối ưu và thời gian điều trị vẫn còn chưa rõ. Chúng tôi khuyến cáo 30-40 mg prednisolone hoặc 12-16 mg dexamethasone mỗi ngày chia thành liều nhỏ, có thể bắt đầu cùng với thuốc diệt sán.

    - NCC thể sùi có nguy cơ gây viêm màng nhện sau khi điều trị diệt sán, do đó điều trị luôn cần kèm theo corticoid, có thể kết hợp phẫu thuật hoặc không.

    - Các kén ở nền sọ cần được điều trị bằng corticoid và một liệu trình albendazole dài hơn, thường ít nhất 30 ngày, kèm theo dẫn lưu não thất - ổ bụng ở những bệnh nhân có biểu hiện não úng thủy.

    - Đối với bệnh nhân có kén vôi hóa, chúng tôi khuyến cáo chỉ cần điều trị chống co giật [24].

    Lựa chọn thuốc —Chúng tôi khuyến cáo dùng albendazole hơn là praziquantel do đặc điểm dược lý học tốt hơn và hiệu quả cao hơn. Cả 2 thuốc đều diệt sán [25]. Các thuốc này luôn được dùng kèm corticoid.

    Albendazole —Albendazole 15 mg/kg/ngày (thường 800 mg/ngày chia 2 lần) trong 15 ngày có tác dụng diệt 75-90% số kén trong nhu mô [26,27]. Thuốc không tương tácvới thuốc chống co giật. Ngoài ra, sử dụng corticoid không ảnh hưởng tới nồng độ albendazole và thậm chí còn làm tăng nồng độ albendazole trong huyết thanh [28,29].

    Mặc dù một số nghiên cứu cho thấy thời gian điều trị có thể giảm xuống 8 ngày, một số nghiên cứu khác lại cho rằng như vậy sẽ làm tăng tỷ lệ thất bại [30,31]. Vì thế đa số các chuyên gia khuyến cáo dùng albendazole ít nhất 15 ngày. Thời gian dùng thuốc là rất quan trọng vì tốt nhất là điều trị nội trú cho bệnh nhân để theo dõi các diễn biến xấu.

    Praziquantel — Praziquantel (50 mg/kg/ngày trong 15 ngày) làm 60-70% các kén biến mất 3 tháng sau điều trị [32]. Chưa có RCT nào so sánh praziquantel và albendazole, nhưng hiệu quả của praziquantel có lẽ thấp hơn.

    Ngoài việc hiệu quả thấp hơn, dược động học của praziquantel cũng có nhiều bất lợi. Thuốc có dạng uống nhưng ngấm qua hàng rào máu não kém, do đó nồng độ trong DNT thường chỉ bằng 20% nồng độ trong huyết tương. [28,33]. Chuyển hóa của praziquantel qua cyt P-450 được kích hoạt bởi corticoid, phenyntoin và Phenobarbital. Do đó nồng độ của praziquantel sẽ thấp đi khi dùng cùng các thuốc này [29]. Mức độ ảnh hưởng trên lâm sàng của các tương tác thuốc này hiện còn chưa rõ.

    Do đó, praziquantel chỉ được xếp vào thuốc hàng 2. [13,34-36].

    Phẫu thuật — Phẫu thuật là cần thiết ở một số bệnh nhân do biến chứng, ví dụ não úng thủy hoặc kén khổng lồ kèm theo tăng ALNS.

    Bệnh nhân não úng thủy thường đáp ứng với dẫn lưu, tuy nhiên hiện tượng tắc dẫn lưu lặp đi lặp lại là tương đối phổ biến. Cũng không rõ liệu điều trị diệt sán và corticoid có làm giảm nguy cơ tắc dẫn lưu hay không.

    Đôi khi do vị trí của kén mà kén sinh ra một số biến chứng. Cần cân nhắc phẫu thuật khi kén nằm trong não thất 4, gắn vào động mạch não giữa hoặc ép vào giao thoa thị giác. Trong các trường hợp đó, phẫu thuật cần ưu tiên trước điều trị nội khoa. Kén sán trong tủy sống cũng cần phẫu thuật. Các chỉ định khác cũng đã được nhắc đến ở trên.

    ĐÁNH GIÁ BỆNH NHÂN — Cần tiến hành các bước sau trước khi bắt đầu điều trị diệt sán hoặc corticoid:

    - Làm PPD (Mantoux). Nếu PPD(+), cần điều trị INH khi bệnh nhân uống corticoid. (lưu ý của người dịch: Việt Nam?)

    - Do nhiều bệnh nhân nhiễm ấu trùng sán lợn cũng có nguy cơ mắc giun lươn, chúng tôi khuyến cáo điều trị các bệnh nhân bằng một liều duy nhất ivermectin trước khi bắt đầu corticoid.

    - Khám mắt để loại trừ nhiễm ấu trùng sán lợn ở mắt.

    THEO DÕI BỆNH NHÂN — Theo dõi bằng CDHA cho tới khi kén thoái triển. Chúng tôi khuyến cáo chụp lại mỗi 3-6 tháng nếu bệnh nhân tiến triển tốt hoặc chụp sớm hơn nếu bệnh nhân vẫn còn triệu chứng. Nếu kén lại phát triển khi ngừng thuốc, cần dùng lại thuốc diệt sán.

    Bệnh nhân có dẫn lưu não thất cần được hướng dẫn các triệu chứng của não úng thủy do tắc dẫn lưu là hiện tượng khá phổ biến.

    TIÊN LƯỢNG —Nhiều bệnh nhân sau điều trị diệt sán vẫn còn co giật [37]. Yếu tố tiên lượng co giật tái phát là số lượng kén ban đầu và hiện tượng vôi hóa còn lại [12].

    DỰ PHÒNG —Chú ý trong ăn uống, không ăn thịt lợn gạo, nấu chín, vệ sinh cá nhân, điều trị triệt để các trường hợp nhiễm sán trưởng thành.


    REFERENCES

    1.
    Garcia, HH, Evans, CA, Nash, TE, et al. Current consensus guidelines for treatment of neurocysticercosis. Clin Microbiol Rev 2002; 15:747.
    2.
    Nainiwal, S, Chand, M, Verma, L, et al. Intraocular live cysticercus larva. Ophthalmic Surg Lasers Imaging 2003; 34:464.
    3.
    Sharma, T, Sinha, S, Shah, N, et al. Intraocular cysticercosis: clinical characteristics and visual outcome after vitreoretinal surgery. Ophthalmology 2003; 110:996.
    4.
    Sudan, R, Muralidhar, R, Sharma, P. Optic nerve cysticercosis: case report and review of current management. Orbit 2005; 24:159.
    5.
    Sundaram, PM, Jayakumar, N, Noronha, V. Extraocular muscle cysticercosis - a clinical challenge to the ophthalmologists. Orbit 2004; 23:255.
    6.
    Salinas, R, Counsell, C, Prasad, K, et al. Treating neurocysticercosis medically: a systematic review of randomized, controlled trials. Trop Med Int Health 1999; 4:713.
    7.
    Sotelo, J, Escobedo, F, Penagos, P. Albendazole vs praziquantel for therapy for neurocysticercosis. A controlled trial. Arch Neurol 1988; 45:532.
    8.
    Garcia, HH, Del Brutto, OH. Neurocysticercosis: updated concepts about an old disease. Lancet Neurol 2005; 4:653.
    9.
    Carpio, A, Santillan, F, Leon, P, et al. Is the course of neurocysticercosis modified by treatment with anthelminthic agents? Arch Intern Med 1995; 155:1982.
    10.
    Garcia, HH, Pretell, EJ, Gilman, RH, et al. A trial of antiparasitic treatment to reduce the rate of seizures due to cerebral cysticercosis. N Engl J Med 2004; 350:249.
    11.
    Vazquez, V, Sotelo, J. The course of seizures after treatment for cerebral cysticercosis. N Engl J Med 1992; 327:696.
    12.
    Del Brutto, OH, Santibanez, R, Noboa, CA, et al. Epilepsy due to neurocysticercosis: analysis of 203 patients. Neurology 1992; 42:389.
    13.
    Garg, RK. Drug treatment of neurocysticercosis. Natl Med J India 1997; 10:173.
    14.
    Garcia, HH, Del Brutto, OH. Taenia solium cysticercosis. Infect Dis Clin North Am 2000; 14:97.
    15.
    White, AC Jr. Neurocysticercosis: a major cause of neurological disease worldwide. Clin Infect Dis 1997; 24:101.
    16.
    Padma, MV, Behari, M, Misra, NK, Ahuja, GK. Albendazole in neurocysticercosis. Natl Med J India 1995; 8:255.
    17.
    Del Brutto, OH, Roos, KL, Coffey, CS, Garcia, HH. Meta-analysis: Cysticidal drugs for neurocysticercosis: albendazole and praziquantel. Ann Intern Med 2006; 145:43.
    18.
    Singhi, P, Ray, M, Singhi, S, Khandelwal, N. Clinical spectrum of 500 children with neurocysticercosis and response to albendazole therapy. J Child Neurol 2000; 15:207.
    19.
    Gogia, S, Talukdar, B, Choudhury, V, Arora, BS. Neurocysticercosis in children: clinical findings and response to albendazole therapy in a randomized, double-blind, placebo-controlled trial in newly diagnosed cases. Trans R Soc Trop Med Hyg 2003; 97:416.
    20.
    Singhi, P, Jain, V, Khandelwal, N. Corticosteroids versus albendazole for treatment of single small enhancing computed tomographic lesions in children with neurocysticercosis. J Child Neurol 2004; 19:323.
    21.
    Garg, RK. Diagnostic criteria for neurocysticercosis: some modifications are needed for Indian patients. Neurol India 2004; 52:171.
    22.
    Proano, JV, Madrazo, I, Avelar, F, et al. Medical treatment for neurocysticercosis characterized by giant subarachnoid cysts. N Engl J Med 2001; 345:879.
    23.
    Bang, OY, Heo, JH, Choi, SA, Kim, DI. Large cerebral infarction during praziquantel therapy in neurocysticercosis. Stroke 1997; 28:211.
    24.
    Garcia, HH, Del Brutto, OH, Nash, TE, et al. New concepts in the diagnosis and management of neurocysticercosis (Taenia solium). Am J Trop Med Hyg 2005; 72:3.
    25.
    Del Brutto, OH. Neurocysticercosis. Semin Neurol 25:243.
    26.
    Sotelo, J, Penagos, P, Escobedo, F, Del Brutto, OH. Short course of albendazole therapy for neurocysticercosis. Arch Neurol 1988; 45:1130.
    27.
    Takayanagui, OM, Jardim, E. Therapy for neurocysticercosis. Comparison between albendazole and praziquantel. Arch Neurol 1992; 49:290.
    28.
    Sotelo, J, Jung, H. Pharmacokinetic optimisation of the treatment of neurocysticercosis. Clin Pharmacokinet 1998; 34:503.
    29.
    Jung, H, Hurtado, M, Medina, MT, et al. Dexamethasone increases plasma levels of albendazole. J Neurol 1990; 237:279.
    30.
    Garcia, HH, Gilman, RH, Horton, J, et al. Albendazole therapy for neurocysticercosis: a prospective double-blind trial comparing 7 versus 14 days of treatment. Cysticercosis Working Group in Peru. Neurology 1997; 48:1421.
    31.
    Cruz, I, Cruz, ME, Carrasco, F, Horton, J. Neurocysticercosis: optimal dose treatment with albendazole. J Neurol Sci 1995; 133:152.
    32.
    Sotelo, J, Escobedo, F, Rodriguez-Carbajal, J, et al. Therapy of parenchymal brain cysticercosis with praziquantel. N Engl J Med 1984; 310:1001.
    33.
    de Silva, N, Guyatt, H, Bundy, D. Anthelmintics. A comparative review of their clinical pharmacology. Drugs 1997; 53:769.
    34.
    Venkatesan, P. Albendazole. J Antimicrob Chemother 1998; 41:145.
    35.
    Sotelo, J, del Brutto, OH, Penagos, P, et al. Comparison of therapeutic regimen of anticysticercal drugs for parenchymal brain cysticercosis. J Neurol 1990; 237:69.
    36.
    Cruz, M, Cruz, I, Horton, J. Albendazole versus praziquantel in the treatment of cerebral cysticercosis: clinical evaluation. Trans R Soc Trop Med Hyg 1991; 85:244.
    37.
    Del Brutto, OH. Prognostic factors for seizure recurrence after withdrawal of antiepileptic drugs in patients with neurocysticercosis. Neurology 1994; 44:1706.
    38.
    Gonzalez, AE, Gauci, CG, Barber, D, et al. Vaccination of pigs to control human neurocysticercosis. Am J Trop Med Hyg 2005; 72:837.
    39.
    Allan, JC, Velasquez-Tohom, M, Fletes, C, et al. Mass chemotherapy for intestinal Taenia solium infection: effect on prevalence in humans and pigs. Trans R Soc Trop Med Hyg 1997; 91:595.
    40.
    Cruz, M, Davis, A, Dixon, H, et al. Operational studies on the control of Taenia solium taeniasis/cysticercosis in Ecuador. Bull World Health Organ 1989; 67:401.
    41.
    Pal, DK, Carpio, A, Sander, JW. Neurocysticercosis and epilepsy in developing countries. J Neurol Neurosurg Psychiatry 2000; 68:137.
    42.
    Manoutcharian, K, Rosas, G, Hernandez, M, et al. Cysticercosis: identification and cloning of protective recombinant antigens. J Parasitol 1996; 82:250.
    43.
    White, AC Jr, Robinson, P, Kuhn, R. Taenia solium cysticercosis: host-parasite interactions and the immune response. Chem Immunol 1997; 66:209.
    44.
    Nash, TE, Singh, G, White, AC, et al. Treatment of neurocysticercosis: current status and future research needs. Neurology 2006; 67:1120.
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  2. The Following User Says Thank You to drchinh For This Useful Post:

    bacsichuotbach (14-05-14)

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. Bệnh nhân: 1
    Last Post: 25-10-12, 19:37
  2. [Bài dịch] Các bệnh lý nhiễm trùng: Nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương
    By drchinh in forum TRUYỀN NHIỄM
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 15-10-12, 00:25

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •