Results 1 to 1 of 1

Thread: Cập nhật về Herpes sinh dục

  1. #1
    Trần Thế Viện's Avatar
    Trần Thế Viện is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-3939
    Cấp phép ngày
    Aug 2013
    Thường ở
    Hồ Chí Minh City
    Bệnh nhân
    169
    Cám ơn
    10
    Được cám ơn
    174/109
    Kinh nghiệm khám
    23

    Default Cập nhật về Herpes sinh dục

    CẬP NHẬT VỀ NHIỄM HERPES SINH DỤC
    (GENITAL HSV INFECTIONS)

    BS. Nguyễn Khánh Hòa Đồng
    Lược dịch từ: Sexually Transmitted Diseases Treatment Guidelines, CDC 2006


    Herpes sinh dục là tình trạng nhiễm virus mạn tính, dai dẵng. Có 2 types virus herpes(HSV): HSV-1 và HSV-2. Hầu hết các trường hợp herpes sinh dục tái phát (recurrent) gây ra do HSV-2 mặc dù HSV-1 thì thường gặp trong đợt đầu tiên của herpes sinh dục. Có hơn 50 triệu người ở Hoa kỳ bị nhiễm HSV sinh dục.

    Phần lớn những người bị nhiễm HSV-2 không được chẩn đoán herpes sinh dục. Đa số họ bị nhiễm ở mức độ nhẹ hoặc không được phát hiện ra, nhưng virus thì vẫn phát triển tiếp tục trong đường sinh dục. Đa số trường hợp nhiễm herpes sinh dục đã lây truyền sang người khác mà họ không biết họ bị nhiễm hoặc không hề có triệu chứng gì xảy ra.


    Chẩn đoán Nhiễm HSV

    Chẩn đoán lâm sàng herpes sinh dục thường không nhạy cảm và không đặc hiệu. Mụn nước mọc thành chùm đau rát hoặc các tổn thương loét cổ điển thường không có trong hầu hết người bị nhiễm. 50% trường hợp trong đợt đầu tiên của herpes sinh dục gây ra do HSV-1 , nhưng các trường hợp tái phát và tồn tại dưới lâm sàng thì tần suất nhiễm HSV-1 thấp hơn nhiễm HSV-2. Vì thế, không thể biết được herpes sinh dục gây ra do HSV-1 hay HSV-2 trong tiên lượng và tư vấn (counseling). Bởi vậy, chẩn đoán lâm sàng herpes sinh dục cần phải thực hiện bằng các xét nghiệm , cả hai thử nghiệm virus học và huyết thanh đặc hiệu HSV phải cùng được thực hiện trên lâm sàng ở các bệnh nhân bị STDs hoặc có nguy cơ mắc STDs.


    Các Thử nghiệm Virus học

    Cố định HSV trong cấy tế bào là thử nghiệm virus học cho các bệnh nhân mà họ cần điều trị loét sinh dục hoặc có các tổn thương da-niêm mạc. Tuy nhiên, cấy tế bào có độ nhạy thấp, đặc biệt trong các tổn thương tái phát, và giảm nhanh trên các tổn thương khi bắt đầu điều trị. Thử nghiệm PCR tìm HSV-ARN có độ nhạy cao và thường dùng thay thế cho cấy virus, tuy nhiên, thử nghiệm PCR chưa được FDA công nhận là thử nghiệm cho tất cả các chủng gây bệnh đường sinh dục. PCR là thử nghiệm được lựa chọn để phát hiện HSV trong dịch tủy sống để chẩn đoán nhiễm HSV ở hệ thống thần kinh trung ương (CNS: central nervous system). Cấy cố định virus được thực hiện để xác định HSV-1 hoặc HSV-2 là nguyên nhân gây nhiễm. Rất ít HSV được phát hiện (trong cấy hoặc PCR) trong nhiễm HSV, nhưng virus thì vẩn tiếp tục phát triển. Dùng thử nghiệm tế bào học (cytology) để phát hiện các thay đổi về mặt tế bào trong nhiễm HSV thì không nhạy cảm và không đặc hiệu trong chẩn đoán, cả trong các tổn thương sinh dục và Pap smears cổ tử cung.

    Các thử nghiệm huyết thanh đặc hiệu

    Cả hai loại kháng thể đặc hiệu và không đặc hiệu của HSV xuất hiện ngay trong những tuần đầu sau khi nhiễm và tồn tại kéo dài một thời gian không xác định. Thử nghiệm huyết thanh HSV đặc hiệu được thực hiện để phát hiện chính xác glycoprotein G2 (HSV-2) và glycoprotein G1 (HSV-1).

    FDA công nhận thử nghiệm tìm glycoprotein G chuyên biệt bao gồm: thử nghiệm HerpeSelect -1 ELISA IgG hoặc HerpeSelect -2 ELISA IgG và HerpeSelect 1,2 IgG . Hai thử nghiệm khác, Biokit HSV-2 và SureVue HSV-2 là những thử nghiệm cung cấp kết quả kháng thể HSV-2 bằng máu mao mạch hoặc từ huyết thanh. Độ nhạy của các thử nghiệm glycoprotein G chuyên biệt khi phát hiện kháng thể HSV-2 thay đổi từ 80-98%, và kết quả âm tính giả cũng có một tần suất cao trong nhiễm HSV giai đoạn sớm. Độ đặc hiệu của các thử nghiệm này ≥ 96%. Kết quả dương tính giả cũng có thể xảy ra, đặc biệt ở các bệnh nhân có khả năng nhiễm HSV thấp. Lập lại các thử nghiệm để xác định có thể được chỉ định, đặc biệt nếu có bằng chứng mắc phải herpes sinh dục.

    Bởi vì gần đây tất cả các trường hợp nhiễm HSV-2 mắc phải là qua quan hệ tình dục, sự hiện diện của kháng thể HSV-2 chuyên biệt có liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục-hậu môn và việc giáo dục, tư vấn dành riêng cho người nhiễm herpes sinh dục cần được thực hiện. Sự hiện diện của chỉ một kháng thể HSV-1 thường rất khó giải thích, đa số những người mang kháng thể HSV-1 có nhiễm HSV mắc phải qua đường miệng từ lúc nhỏ, mà họ lại không có triệu chứng, tuy nhiên, nhiễm HSV-1 mắc phải qua đường tình dục ngày càng gia tăng, và nhiễm HSV-1 ở đường sinh dục cũng không có triệu chứng. Người có huyết thanh HSV-1 dương tính mà không có triệu chứng thì cũng không thể xác định được họ có viêm hậu môn-sinh dục từ các viêm nhiễm đường môi-miệng hoặc trên da. Những người nhiễm HSV-1, nếu lưu ý đến vị trí, vẫn duy trì các nguy cơ nhiễm HSV-2 mắc phải.

    Thử nghiệm huyết thanh HSV chuyên biệt có thể dùng trong:
    (1) Có các triệu chứng ở đường sinh dục tái phát hoặc có triệu chứng không đặc hiệu với thử nghiệm cấy HSV âm tính,
    (2) Chẩn đoán lâm sàng herpes sinh dục nhưng không có thử nghiệm xác định,
    (3) Bạn tình của người nhiễm herpes sinh dục.

    Một số chuyên gia tin rằng thử nghiệm huyết thanh HSV có thể dùng để lượng giá tình trạng STDs cho những người có nhiều bạn tình (multiple sex partners), người nhiễm HIV, đồng tính luyến ái nam (MSM: men who have sex with men). Tầm soát HSV-1, HSV-2 trong quần thể dân cư không có chỉ định.

    Quản lý chung Herpes sinh dục

    Hóa liệu pháp kháng virus được đề nghị cho các bệnh nhân có triệu chứng và là chỗ dựa cho việc quản lý bệnh. Tư vấn liên quan đến tiền sử tự nhiên của herpes sinh dục, lây truyền qua đường tình dục và thời kỳ có thai, các phương pháp làm giảm sự lây nhiễm cần phải được thực hiện.

    Thuốc kháng virus đường toàn thân có thể kiểm soát một phần các dấu hiệu và triệu chứng của các chu kỳ herpes khi dùng điều trị lần phát bệnh đầu tiên và các lần tái phát, hoặc khi điều trị ức chế hàng ngày( daily suppressive therapy). Tuy nhiên, các thuốc này vừa không thanh toán được các virus tiềm ẩn (latent virus) và cũng không dứt điểm được nguy cơ bị nhiễm, tần suất, mức độ nặng của các lần tái phát. Khuyến cáo dùng 03 loại dược phẩm kháng virus được sử dụng trên lâm sàng trong herpes sinh dục: acyclovir, valacyclovir, famciclovir. Valacyclovir là dạng ester valine của acyclovir được hấp thu tốt qua đường uống. Famciclovir có sinh khả dụng (bioavailability) cao qua đường uống. Điều trị tại chỗ bằng thuốc kháng virus có hiệu quả kém.

    Điều trị herpes sinh dục đợt đầu tiên

    Đa số bệnh nhân phát bệnh lần đầu tiên đều có triệu chứng lâm sàng nhẹ nhưng về sau tiến triển nặng hoặc triệu chứng kéo dài. Vì thế, họ phải cần điều trị kháng virus.

    *Chế độ khuyến cáo:
    Acyclovir 400mg x 3 lần / ngày x 7-10 ngày (uống)
    hoặc Acyclovir 200mg x 5 lần/ ngày x 7-10 ngày (uống)
    hoặc Famciclovir 250mg x 3 lần/ ngày x 7-10 ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 1g x 2 lần/ngày x 7-10 ngày (uống)

    (**Điều trị có thể kéo dài nếu các triệu chứng không giảm hoàn toàn sau 10 ngày điều trị)

    Xác định nhiễm HSV-2

    Phần lớn bệnh nhân có triệu chứng, các tổn thương sinh dục xuất hiện ở ngay đợt đầu tiên và sau này ở các đợt tái phát; các đợt tái phát có tần suất thấp khi giai đoạn đầu do nhiễm HSV-1. Các đợt xuất hiện mà không có triệu chứng xảy ra cũng không liên tục ở những bệnh nhân nhiễm HSV-2 sinh dục, thậm chí tình trạng này có thể kéo dài hoặc tiềm ẩn trên lâm sàng. Điều trị kháng virus trong herpes sinh dục tái phát có thể chỉ định trong giai đoạn phát bệnh để nhanh chóng cải thiện hoặc rút ngắn giai đoạn các tổn thương, hoặc tiến hành điều trị ức chế để làm giảm tần suất các đợt tái phát. Đa số bệnh nhân, dù họ có tái phát nhẹ hoặc có các đợt bùng phát, cần phải dùng liệu pháp kháng virus; vì thế, lựa chọn quyết định điều trị cần phải được cân nhắc. Một số bệnh nhân được dùng liệu pháp điều trị ức chế, họ có lợi thế là giảm các nguy cơ lây nhiễm HSV-2 sinh dục cho bạn tình của họ.

    Liệu pháp ức chế trong Herpes sinh dục tái phát

    Liệu pháp ức chế ( suppressive therapy) làm giảm tần suất herpes sinh dục tái phát ở 70-80% bệnh nhân mà họ có các đợt tái phát (≥ 6 lần / năm), và phần lớn bệnh nhân báo cáo rằng không bùng phát triệu chứng. Điều trị cũng có hiệu quả trên các bệnh nhân có tần suất tái phát thấp. Độ an toàn và hiệu quả đã có những tư liệu từ các bệnh nhân dùng liệu pháp hàng ngày bằng Acyclovir kéo dài trong 6 năm và bằng Valacyclovir hoặc Famciclovir trong 1 năm. Chất lượng cuộc sống (quality of life) tăng lên ở các bệnh nhân có tần suất tái phát mà họ được nhận liệu pháp ức chế, so sánh với việc điều trị theo chu kỳ.

    Tần suất bùng phát herpes sinh dục tái phát giảm đi theo thời gian trong phần lớn bệnh nhân, và mức độ điều chỉnh tâm lý của bệnh nhân cũng thay đổi. Vì thế, điều trị ức chế theo chu kỳ ( thí dụ như 1 năm) cần cân nhắc khi cần thiết phải điều trị kéo dài trên bệnh nhân.
    Điều trị hàng ngày với Valacyclovir 500mg/ngày làm giảm tỷ suất lây truyền HSV-2 ở những cặp vợ chồng mà bạn tình có tiền sử nhiễm HSV-2 sinh dục. Những cặp vợ chồng này cần khuyến khích dùng liệu pháp ức chế kháng virus như là một phần của chiến lược dự phòng lây nhiễm, khuyến khích sử dụng bao cao su và cố gắng tránh quan hệ tình dục trong đợt tái phát. Liệu pháp ức chế kháng virus có khả năng giảm sự lây nhiễm khi dùng cho những người mà họ có nhiều bạn tình (kể cả MSM) và những người có huyết thanh HSV-2 dương tính mà tiền sử không có herpes sinh dục.

    *Chế độ khuyến cáo:
    Acyclovir 400mg x 2 lần / ngày (uống)
    hoặc Famciclovir 250mg x 2 lần/ ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 500mg x 1 lần/ ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 1g x 1 lần/ngày (uống)

    Valacyclovir 500mg 1 lần/ ngày có thể kém hiệu quả hơn liều Valacyclovir hoặc Acyclovir khác ở các bệnh nhân mà họ có tần suất tái phát cao ( ≥ 10 lần/ năm).

    Điều trị theo chu kỳ trong herpes sinh dục tái phát

    Hiệu quả của điều trị theo chu kỳ (episodic therapy) trong herpes sinh dục tái phát yêu cầu điều trị ngay khi mới xuất hiện tổn thương trong vòng 1 ngày hoặc nghi ngờ giai đoạn bùng phát. Bệnh nhân cần phải được cung cấp thuốc hoặc kê đơn thuốc điều trị ngay tức thì khi triệu chứng bắt đầu.

    *Chế độ khuyến cáo:
    Acyclovir 400mg x 3 lần/ ngày x 5 ngày (uống)
    hoặc Acyclovir 800mg x 2 lần/ngày x 5 ngày (uống)
    hoặc Acyclovir 800mg x 3 lần/ngày x 2 ngày (uống)
    hoặc Famciclovir 125mg x 2 lần/ngày x 5 ngày (uống)
    hoặc Famciclovir 1000mg x 2 lần/ngày x 1 ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 500mg x 2 lần/ ngày x 3 ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 1g x 1 lần/ ngày x 5ngày (uống)


    Bệnh lý nặng

    Liệu pháp Acyclovir đường tĩnh mạch (IV) có thể được dùng cho bệnh nhân nặng hoặc có biến chứng cần phải nhập viện (như là nhiễm trùng lan tỏa, viêm phổi, viêm gan) hoặc các biến chứng ở hệ thống thần kinh trung ương (viêm màng não, viêm não).

    Khuyến cáo chế độ dùng Acyclovir 5-10mg/kg thể trọng IV mỗi 8 giờ trong 2-7 ngày hoặc đến khi lâm sàng thuyên giảm, sau đó chuyển qua dùng đường uống để hoàn thành trong 10 ngày điều trị.

    Tư vấn (counseling)

    Tư vấn cho người bị nhiễm và bạn tình của họ là một tiêu chí trong quản lý herpes sinh dục. Mục đích của tư vấn là:
    (1) giúp bệnh nhân đương đầu với bệnh tật (2) dự phòng lây nhiễm qua đường tình dục và thời kỳ có thai.

    Người nhiễm HSV có thể rất lo âu về herpes sinh dục khi họ không được phản hồi (reflect) về tình trạng lâm sàng nghiêm trọng do bệnh lý của họ; phần lớn lo lắng về herpes sinh dục bao gồm tình trạng lâm sàng nặng của giai đoạn đầu, các giai đoạn tái phát, liên quan đến tình dục và lây nhiễm cho bạn tình, các ảnh hưởng đến sức khỏe con cái.

    Những khuyến cáo sau đây được dùng để tư vấn cho người nhiễm HSV:
    (1) Người bị herpes sinh dục sẽ được hướng dẫn các nhận thức liên quan đến tiền sử bệnh, với trọng tâm là tiềm năng (potential) của các đợt tái phát, nhiễm virus không có triệu chứng và nguy cơ lây nhiễm qua đường tình dục.
    (2) Người đã trãi qua nhiễm herpes sinh dục lần đầu tiên có thể được khuyên dùng liệu pháp ức chế vì có nhiều khả năng và có hiệu quả dự phòng triệu chứng của các đợt tái phát, và điều trị theo chu kỳ cũng có thể được dùng để rút ngắn giai đoạn của các đợt tái phát.
    (3) Tất cả những người nhiễm HSV sinh dục cần khuyến khích thông tin cho bạn tình hiện tại về tình trạng nhiễm herpes sinh dục của họ và thông tin cho bạn tình tương lai trước khi quan hệ tình dục.
    (4) Lây truyền HSV qua đường tình dục có thể xảy ra mà không có triệu chứng. Nhiễm virus không có triệu chứng ở HSV-2 có tần suất cao hơn HSV-1 và đa số xảy ra trong 12 tháng đầu sau khi mắc phải HSV-2.
    (5) Tất cả những người nhiễm HSV sinh dục cần tránh quan hệ tình dục với bạn tình không bị mắc bệnh khi mà các tổn thương hoặc triệu chứng đang hiện diện.
    (6) Nguy cơ lây truyền HSV-2 qua đường tình dục có thể giảm khi dùng hàng ngày Valacyclovir ở bệnh nhân bị nhiễm.
    (7) Dùng bao cao su latex đúng phương pháp có thể giảm nguy cơ lây truyền herpes sinh dục.
    (8) Các bạn tình của người bị nhiễm bệnh có thể được khuyên rằng họ có thể bị nhiễm bệnh, thậm chí ngay cả khi không có triệu chứng. Thử nghiệm huyết thanh chuyên biệt ở bạn tình không có triệu chứng của người nhiễm herpes sinh dục được khuyến cáo thực hiện để xác định nguy cơ mắc phải HSV.
    (9) Nguy cơ nhiễm HSV bào thai có thể giải thích gây ra do tất cả mọi người, kể cả nam giới. Phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sanh đẻ mà họ bị herpes sinh dục cần được thông tin về chăm sóc sức khỏe trong suốt thời kỳ mang thai và trong chăm sóc trẻ sơ sinh. Phụ nữ có thai mà họ không bị nhiễm HSV-2 có thể được khuyên nên tránh quan hệ với người đàn ông bị herpes sinh dục từ quý III của thai kỳ. Tương tự, phụ nữ có thai mà họ không bị nhiễm HSV-1 cũng cần được tư vấn tránh lây nhiễm HSV-1 từ quý III của thai kỳ ( chẳng hạn như quan hệ tình dục bằng đường miệng với bạn tình bị herpes đường miệng và quan hệ bằng đường âm đạo với bạn tình bị nhiễm HSV-1 đường sinh dục).
    (10) Những người không có triệu chứng đã được chẩn đoán nhiễm HSV-2 qua thử nghiệm huyết thanh chuyên biệt có thể nhận thông điệp tư vấn tương tự như những người nhiễm có triệu chứng.

    Quản lý bạn tình

    Bạn tình của người bị herpes sinh dục được hưởng lợi từ lượng giá và tư vấn.Các bạn tình có triệu chứng có thể được lượng giá và điều trị giống như người bị nhiễm herpes sinh dục. Các bạn tình không có triệu chứng của người nhiễm herpes sinh dục có thể được hỏi thêm về các tiền sử tổn thương đường sinh dục và thử nghiệm huyết thanh HSV chuyên biệt.

    Những tình huống đặc biệt

    *Dị ứng, bất dung nạp, phản ứng có hại
    Dị ứng và các phản ứng có hại khác xảy ra do acyclovir, valacyclovir, famciclovir thì rất hiếm. Giảm nhạy cảm với acyclovir đã được báo cáo.

    *Nhiễm HIV
    Tình trạng giảm miễn dịch của bệnh nhân có thể làm cho các đợt herpes ở vùng sinh dục, quanh hậu môn, miệng kéo dài hoặc nặng hơn. Các thương tổn của HSV thường gặp trên người nhiễm HIV và có thể nặng, đau và không điển hình.Liệu pháp kháng virus làm giảm tình trạng nặng và tần suất các triệu chứng của herpes sinh dục; liệu pháp ức chế hoặc liệu pháp theo chu kỳ với các chế phẩm kháng virus dùng đường uống có hiệu lực làm mất đi các triệu chứng lâm sàng của HSV trên người HIV dương tính. Một số nhà chuyên môn đề nghị thử nghiệm huyết thanh HSV chuyên biệt ở người nhiễm HIV dương tính, và liệu pháp ức chế được khuyến cáo cho những người nhiễm HSV-2.

    -Khuyến cáo liệu pháp ức chế dùng hàng ngày trên bệnh nhân nhiễm HIV:
    Acyclovir 400-800mg x 2-3 lần/ ngày (uống)
    hoặc Famciclovir 500mg x 2 lần/ ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 500mg x 2 lần/ ngày (uống)

    *Khuyến cáo liệu pháp theo chu kỳ trên bệnh nhân nhiễm HIV:
    Acyclovir 400mg x 3 lần/ ngày x 5-10 ngày (uống)
    hoặc Famciclovir 500mg x 2 lần/ ngày x 5-10 ngày (uống)
    hoặc Valacyclovir 1g x 2 lần/ ngày x 5-10 ngày (uống)

    Acyclovir, Valacyclovir, Famciclovir an toàn khi dùng cho bệnh nhân giảm miễn dịch với liều lượng được khuyến cáo để điều trị herpes sinh dục. Ở trường hợp HSV nặng, điều trị đầu tiên với acyclovir 5-10mg/kg IV mỗi 8 giờ là cần thiết.

    Nếu tổn thương vẫn tồn tại hoặc tái phát trên bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc kháng virus, HSV kháng thuốc cần được xác định, bệnh nhân cần được quản lý bởi một nhà chuyên môn về HIV, và điều trị xen kẽ cần được thực hiện. Các trường hợp kháng acyclovir sẽ dẫn đến kháng valacyclovir và nhiều nguy cơ kháng cả famciclovir. Foscarnet 40mg/kg IV mỗi 8 giờ dùng cho đến khi mất triệu chứng lâm sàng, có hiệu quả trong điều trị herpes sinh dục kháng acyclovir. Cidofovir gel 1% bôi tại sang thương mỗi ngày, liên tiếp 5 ngày có thể có hiệu quả.

    Herpes sinh dục ở phụ nữ có thai

    Đa số bà mẹ của các đứa trẻ mắc phải herpes sinh dục trong thời kỳ bào thai có rất ít bằng chứng về tiền căn và lâm sàng của herpes sinh dục. Nguy cơ lây truyền cho bào thai từ bà mẹ bị nhiễm rất cao (30-50%) ngay cả ở các bà mẹ mắc phải herpes sinh dục vào lúc gần sanh, và thấp ( < 1%) ở các bà mẹ có tiền sử herpes tái phát đã ổn định hoặc mắc phải herpes sinh dục trong nữa đầu của thai kỳ. Tuy nhiên, bởi vì herpes sinh dục tái phát phổ biến hơn nhiễm HSV trong nữa đầu của thai kỳ, tỷ lệ nhiễm HSV mắc phải trong thời kỳ bào thai từ bà mẹ bị herpes tái phát rất đáng kể. Dự phòng nhiễm herpes trong thời kỳ bào thai bao gồm dự phòng mắc phải herpes sinh dục trong cuối thai kỳ và tránh cho trẻ tiếp xúc với tổn thương herpes trong lúc sanh.

    Bà mẹ không biết về herpes sinh dục cần được tư vấn để tránh quan hệ với bạn tình nhiễm herpes sinh dục trong quí III của thai kỳ. Cũng tương tự, bà mẹ không biết về herpes môi-miệng cần phải tránh tiếp xúc tình dục bằng miệng với bạn tình nhiễm herpes môi-miệng trong quí III của thai kỳ. Một số chuyên gia tin rằng thử nghiệm huyết thanh chuyên biệt được dùng để xác định bà mẹ có thai có nguy cơ nhiễm HSV và tiến hành tư vấn để tránh nguy cơ mắc phải herpes sinh dục trong thai kỳ. Thử nghiệm này có thể được đề nghị cho bà mẹ không có herpes sinh dục mà họ có bạn tình nhiễm HSV. Hiệu quả của liệu pháp kháng virus làm giảm các nguy cơ lây truyền HSV cho bà mẹ có thai thì chưa được nghiên cứu.

    Tất cả bà mẹ có thai cần được hỏi kỹ về tiền sử herpes sinh dục, cần được khám cẩn thận về các triệu chứng của herpes sinh dục bao gồm triệu chứng tiền báo, các tổn thương herpes. Bà mẹ không có triệu chứng hoặc dấu hiệu của herpes sinh dục có thể sanh ngã âm đạo (deliver vaginally). Đa số các chuyên gia khuyến cáo các bà mẹ có herpes sinh dục tái phát khi sanh phải mổ bắt con (cesarean section) để phòng ngừa herpes cho thai nhi. Tuy nhiên, mổ bắt con thì không hoàn toàn loại trừ hết các nguy cơ lây truyền HSV cho trẻ.

    Độ an toàn của acyclovir, valacyclovir, famciclovir dùng đường toàn thân ở phụ nữ có thai thì chưa rõ. Một số dữ liệu thì khuyên không nên chỉ định vì làm tăng nguy cơ dị dạng bào thai ở phụ nữ điều trị acyclovir trong 3 tháng đầu thai kỳ. Kinh nghiệm về valacyclovir, famciclovir dùng lúc trước khi sanh cũng chưa đầy đủ. Acyclovir có thể dùng uống cho phụ nữ có thai bị herpes sinh dục đợt đầu tiên hoặc herpes tái phát nặng và có thể dùng đường tĩnh mạch cho bà mẹ có thai nhiễm HSV nặng. Điều trị bằng acyclovir muộn trong thai kỳ làm giảm tần suất mổ bắt con ở những bà mẹ có herpes sinh dục tái phát bởi vì làm giảm bớt số lần tái phát, đã được đa số chuyên gia khuyên dùng. Không có dữ liệu cung cấp cách dùng liệu pháp kháng virus ở bà mẹ có thử nghiệm huyết thanh HSV dương tính mà không có tiền căn herpes sinh dục. Nguy cơ nhiễm herpes là rất cao ở trẻ em có bà mẹ mắc phải herpes sinh dục trong giai đoạn muộn của thai kỳ, nên bà mẹ cần được tư vấn và quản lý bởi các chuyên gia. Một số chuyên gia khuyên dùng liệu pháp acyclovir trong tình huống này, một số chuyên gia khác thì lại thích dùng biện pháp mổ bắt con để làm giảm nguy cơ herpes trẻ sơ sinh, một số chuyên gia khác thì lại khuyến cáo cả hai.

    Herpes ở trẻ sơ sinh

    Đứa trẻ nhiễm HSV trong thai kỳ, cần lập lại các thử nghiệm virus học, theo dõi các tổn thương, tư vấn từ một chuyên gia. Một số chuyên gia khuyến cáo rằng trẻ cần được cấy dịch tiết từ niêm mạc để phát hiện HSV trước khi thấy phát sinh các dấu hiệu lâm sàng của herpes trẻ sơ sinh. Thêm vào đó, một số chuyên gia khuyên dùng acyclovir cho trẻ sanh ra từ bà mẹ mắc HSV gần ngày sanh bởi vì nguy cơ nhiễm herpes của trẻ rất cao. Tất cả những đứa trẻ bị herpes trẻ sơ sinh có thể được lượng giá và điều trị bằng acyclovir đường toàn thân.

    *Chế độ khuyến cáo:
    Acyclovir 20mg/kg thể trọng IV mỗi 8 giờ:
    +Dùng 21 ngày: ở bệnh lý lan tỏa, bệnh lý thần kinh trung ương;
    +Dùng 14 ngày : nếu bệnh lý chỉ giới hạn ở da, niêm mạc.
    Dermatology is my life.
    Chỉ thích VODKA với CAFÉ nóng

  2. The Following 3 Users Say Thank You to Trần Thế Viện For This Useful Post:

    domtrang (12-01-15),drhuong (25-08-13),Trần Duy Tùng (02-09-13)

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. [Nghiên cứu] Viêm não do Herpes Simplex Virus: 2 ca bệnh
    By drthanhtam in forum TRUYỀN NHIỄM
    Bệnh nhân: 1
    Last Post: 28-07-13, 17:55

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •