Results 1 to 5 of 5

Thread: Trăm năm dạy ứng xử nghề nghiệp ở đại học Y Hà Nội

  1. #1
    drlam's Avatar
    drlam is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-18
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    3
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    5/4
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default Trăm năm dạy ứng xử nghề nghiệp ở đại học Y Hà Nội

    TRĂM NĂM DẬY ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP Ở ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
    -----
    Nguyễn Ngọc Lanh
    Nguyên Giáo sư Đại học Y Hà Nội
    NGND



    Hình ảnh của Trường Đại học Y Dược Hà Nội thuở mới được thành lập, năm 1930 tại 19 Lê Thánh Tông, Hoàn Kiếm


    Hình ảnh của Trường Đại học Y Hà Nội ngày nay, tại số 1 Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội

    Trên 100 năm tồn tại, trường Y Đông Dương - nay là đại học Y Hà Nội - có hai cách dạy ứng xử nghề nghiệp cho sinh viên, xuất phát từ hai quan điểm khác nhau.

    1- Quan điểm coi nghề y là một nghề nhân đạo trong mọi xã hội. Đó là trị bệnh cứu người, không phân biệt giàu - nghèo, sang – hèn…
    2- Quan điểm coi nghề y phục vụ đường lối. Trước kia, thầy thuốc phục vụ vua quan, tư bản, nay hoj phục vụ nhân dân, chủ yếu là công-nông-binh.

    PHẦN 1. VỀ QUAN ĐIỂM NHÂN ĐẠO CỦA Y HỌC

    Liệu nghề y có là nghề cổ nhất, do vậy mà sớm nhất có lời thề?

    Con người xuất hiện cùng bệnh tật. Từ trước đó, Thượng Đế vạn năng đã hoá thân thành thầy thuốc để cắt xương sườn Adam, đặng tạo thành Eva. Có 2 con người, lập tức có trao đổi. Xã hội tự cấp sẽ tiến tới trao đổi hàng hoá, xuất hiện thị trường. Thời đồ đá, đã có tiền bằng vỏ sò.

    Lời thề Hippocrate, trải 2500 năm đến nay đã thay đổi hoàn toàn cho hợp với cơ chế thị trường. Ví dụ, lời thề đọc ở trường Y Đông Dương có câu: Tôi thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức tôi đã bỏ ra. Nó thể hiện quan hệ công bằng - đặc trưng của một thị trường lành mạnh. Dù thay đổi đến đâu, chung quy lời thề thầy thuốc vẫn là lời thề nghề nghiệp, tuân theo 2 nguyên tắc: a) chỉ gồm những hành vi nghề nghiệp mà thầy thuốc buộc phải làm hoặc buộc phải tránh; b) nó chỉ viện dẫn các bậc tổ nghề mà không viện dẫn các vĩ nhân ngoài nghề. Phần dưới sẽ nói rằng “lời thề” gần đây nhất của trường này không đáng được gọi là lời thề nghề nghiệp vì vi phạm hai nguyên tắc trên.

    Trường Y Đông Dương

    Năm 1902 người Pháp mở trường Y cho cả xứ Đông Dương, nhưng đặt ở Hà Nội - mà không phải Sài Gòn như dự kiến – vì một mục đích là dùng văn hoá khoa học Âu Tây xoá dần ảnh hưởng của Nho Học đã bén rễ sâu nhất trong xã hội Bắc Kỳ (đề xuất của Tiểu ban tư vấn do tiến sĩ Henaff đứng đầu)

    - Tại sao mở trường Y mà không phải trường khác? Vì học xong, sẽ có việc ngay và sẽ gần dân – liên quan tới mục đích nói trên. Xưa nay, dù nghề gì thì mục đích số 1 vẫn là kiếm sống, qua đó mà phục vụ xã hội. Nhưng người Pháp nhận ra, nghề y ở xứ nông nghiệp dễ được người dân tìm đến nhất. Vẫn biết, người bệnh phải trả công, nhưng trong lời thề khi ra trường, có hai nội dung đáng chú ý:
    1) Ưu tiên bệnh nặng mà không ưu tiên địa vị xã hội… và
    2) Chữa miễn phí cho người nghèo. Do vậy, thầy thuốc khó mà xa dân. Đã vậy, Quy Chế còn nhắc: khi ra trường “phải làm việc ba năm ở miền núi”.

    Vì sao nghề y (và một số nghề khác) phải có lời thề nghề nghiệp?

    - Một số nghề dễ chiếm được lòng tin mà người hành nghề có thể lợi dụng để mưu lợi bất chính. Người bệnh tin thầy thuốc tới mức phó thác cả sức khoẻ, sinh mệnh và sẵn sàng phô bày cả thân thể, tâm trạng. Khốn nỗi, pháp luật cho tới nay vẫn chưa đủ trình độ phát hiện những sai phạm do lợi dụng lòng tin của một số nghề. Sự thiếu sót này được khắc phục - nhiều hay ít - bằng lời thề nghề nghiệp. Trong khi đó, nghề kinh doanh không cần thề “không cân điêu”.. vì pháp luật và người tiêu dùng có cách phát hiện sự gian trá đó.

    - Do vậy, lời thề sẽ giảm hoặc mất tác dụng nếu niềm tin trong xã hội suy giảm.

    - Vài nghề khác cũng có lời thề: Nghề xử án, nghề quân nhân.

    Thực tế dạy ứng xử nghề nghiệp trước 1945

    Đó là thứ đạo đức phi giai cấp, phi ý thức hệ, với tính nhân đạo chung chung, sau này rất bị phê phán khi chỉnh huấn. Trường Y xưa có nhiều cách dạy theo quan điểm này.

    - Đọc Lời Thề

    Quan trọng, nhưng chỉ là một tiết mục trong buổi lễ phát bằng ngắn ngủi. Lời thề đã khác xa nguyên bản thời Hippocrate vì đã cách nhau gần 2500 năm.

    Sau 1945, trường Y Hà Nội bỏ thủ tục “thề bồi”. Do vậy, đến nay những người vừa rưng rưng lệ, vừa bàn tay trái đặt lên ngực, còn cánh tay phải giơ lên tuyên thệ… không ai còn sống nữa, nhưng một số điều trong lời thề có lẽ vẫn được dân Việt hôm nay tha thiết mong thành hiện thực.

    Ví dụ: Tôi xin thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức mà tôi đã bỏ ra. Nó giúp duy trì lương tâm nghề nghiệp. Nội dung khác: Tôi chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Nó hạn chế cái quan hệ lạnh lùng “tiền trao, cháo múc. Và nữa: Tôi nguyện đem mọi năng lực và phương tiện trong tay làm những đều có ích nhất cho bệnh nhân. Nó thể hiện trách nhiệm đặc trưng của nghề…

    Không phải vị thầy thuốc tân khoa nào cũng nhớ suốt đời những nội dung quan trọng nhất của lời thề. Cụ Vũ Công Hoè ra trường 1936 nhưng gần nửa thế kỷ sau được hỏi lại, thì… “chỉ còn nhớ láng máng”. Có thể do cụ Hoè cả đời không trực tiếp chữa bệnh, mà chỉ cặm cụi nghiên cứu trên các tử thi. Tuy nhiên, cụ lại rất nhớ thầy Lucas Championnière đã giảng rất hay về cách ứng xử hợp đạo đức. Vị thầy này cứ đặt ra những tình huống éo le và hỏi học trò: Nếu gặp trường hợp như vậy, các anh sẽ ứng xử thế nào… Sinh viên phải vận dụng lý thuyết đã học (môn Quy Chế Hành Nghề) để trả lời. Hoá ra, cách dạy case study hiện nay chưa phải sáng tạo gì ghê gớm.

    Như vậy, ngoài đọc lời thề (tới tận cuối khoá học mới có dịp thực hiện) thì vấn đề là hàng ngày sinh viên đã học gì và các thầy đã nêu gương thường nhật ra sao...

    - Điều nay dễ hiểu lầm

    Trường không có môn lý thuyết “Đạo Đức”, kể cả “Đạo Đức Y Học”. Đạo đức nghề nghiệp chỉ thể hiện ở cách ứng xử, mà không ở chỗ thuộc làu làu lý thuyết. Không có vị đạo cao đức trọng nào dùng cách nói thao thao: “anh phải thế này”, “anh nên thế khác”… mà sinh viên trở thành nhà đạo đức. Tuy nhiên, có một môn được dạy: môn Quy Chế Hành Nghề (Deontology), vừa lý thuyết, vừa thực hành. Các cựu sinh viên cho biết: Chỉ các GS kỳ cựu nhất mới được cử ra “kiêm” dạy môn này, ví dụ GS Sollier (chuyên khoa Tai-Mũi-Họng); nhưng GS Vũ Công Hoè lại nói, từng học môn này từ vị thầy khá trẻ: Lucas Championnière. Đó là môn dạy hành xử sao cho phù hợp quy chế, pháp luật và đạo đức thầy thuốc.

    - Những “người muôn năm cũ”.

    Trường Y Đông Dương mở trước khi có bậc trung học, thí sinh trẻ nhất được tuyển mới có 15 tuổi (ví dụ, Phạm Đình Minh, sinh 1887, ở số 100 phố Hàng Gai, hoặc Trần Đình Huy, sinh cùng năm, số 41 Hàng Bạc) chưa có đủ kiến thức cơ bản cần thiết. Họ phải bổ túc Toán, Hoá, Sinh, Pháp văn… Ra trường, với danh hiệu “y sĩ Đông Dương”, hưởng lương như cao đẳng, phụ trách y tế cả một tỉnh và dứt khoát phải làm việc 3 năm ở miền núi (Trần Đình Đệ lên Hoà Bình; Đỗ Xuân Hợp lên Yên Bái, Martin lên Phú Thọ…). Phải 30 năm sau mới có đủ tú tài để trường này chuyển sang đào tạo bác sĩ.

    Thập niên 50 của thế kỷ trước, y sỹ Đông Dương của những khoá muộn nhất (ra trường từ 1922 tới 1930), chỉ còn sót lại 41 vị. Thời xa lắc đó, trong lễ tốt nghiệp nhiều vị còn mặc quốc phục (áo dài, khăn xếp) dáng dấp như những cụ lang.

    Điển hình là các cụ Vũ Đình Tụng (bộ trưởng Thương Binh), Nguyễn Kính Chi (thứ trưởng Y Tế), Trần Văn Lai (Đốc Lý Hà Nội), Nguyễn Đức Khởi (giám đốc Y tế Hà Nội), Hoàng Sử (thầy thuốc hoàng gia, sau là chủ nhiệm Bộ Môn X-quang), Đỗ Xuân Hợp (chủ nhiệm bộ môn Giải Phẫu)… Sinh viên Lê Văn Khải khi thực tập ở tỉnh Hoà Bình, đã mô tả cụ Trần Đình Đệ có phong cách như nhân vật Lỗ Túc (thời Tam Quốc).

    Ngạc nhiên là năm 1955 khi một số vị y sỹ Đông Dương về trường dự sát hạch để được công nhận bác sĩ, họ vẫn có những nét chung rất dễ nhận ra, cứ như đúc từ cùng một cái “khuôn đạo đức” vậy. Đó là tác phong đĩnh đạc; tính cách đôn hậu, nói năng khúc chiết, ôn tồn…

    - Tấm gương từ những ông thầy

    Các thầy Pháp sang Việt Nam đều hoàn toàn tự nguyện, vì:

    1) vẫn hưởng lương “chính quốc”, lại thêm phụ cấp 100%; và do vậy lương họ cao gấp 4 hay 6 lần lương một bác sĩ Việt Nam (ăn lương “thuộc địa”).

    2) bệnh tật nhiệt đới phong phú, rất sẵn đề tài để nghiên cứu.

    Dễ hiểu, họ không cần khám tư, không ham làm quan, mà chỉ hăm hở nghiên cứu. Về sau, nước Pháp đặt thêm tấm bằng “trên tiến sĩ” (ta dịch là “thạc sĩ y khoa”) thì rất nhiều thầy trường này đã kịp có đủ công trình đáp ứng. Tất nhiên, điều này có lợi cho cá nhân (công danh, sự nghiệp). Nhưng việc áp dụng thành tựu nghiên cứu của họ vào thực tiễn thì dân ta hưởng tất. Không thầy nào tỏ ra kỳ thị chủng tộc, khi thấy sinh viên tôn trọng và biết ơn mình, xuất phát từ một truyền thống lâu đời chứ không phải chỉ do xã giao. Có những thầy lấy vợ Việt Nam, như Le Roy des Barres, dạy từ 1902, sau này là ân nhân của BS Hồ Đắc Di. Có lẽ công ơn lớn nhất của họ là đào tạo ra thế hệ danh nhân y học hiện đại cho Việt Nam: Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Văn Chung… Đi trên phố Tôn Thất Tùng, mấy ai nhớ tới các thầy của vị danh nhân này?

    Giáo dục Đông Dương trước 1945 đương nhiên theo mô hình Pháp. Học 3 năm đại học sẽ thành cứ nhân. Học 6 năm, có bảo vệ luận án, được cấp bằng tiến sĩ (ngành y gọi là bác sĩ). Bác sĩ Đặng Văn Ngữ lĩnh 100 đ/tháng, trong khi cử nhân Đào Văn Tiến lĩnh 60 đồng (tương đương 10 và 6 lạng vàng). Các thầy Pháp đều phải có bằng tiến sĩ – bác sĩ - do đại học Y Paris cấp. Năm 1902, trường có 6 tiến sĩ dạy cho 15 sinh viên. Tỷ lệ thầy - trò này đến nay vẫn là quá lý tưởng.

    Những sự thật nói trên có thời được sinh viên trường Y Hà Nội “vận dụng” trong những đợt chỉnh huấn, để lên án các ông thầy người Pháp là “bọn” bóc lột (lương cao quá), vô chính trị (coi “chuyên” hơn “hồng”) và cá nhân chủ nghĩa (chỉ ham bằng cấp)…

    - Vài cá tính của các GS Pháp thập niên 30 được sinh viên nhớ lâu

    Lucas Championnière có ông nội sáng lập một tạp chí y khoa, có cha là viện sỹ, bản thân ông tự nguyện sang Đông Dương để đào tạo, mà không vì thu nhập. Do vậy, rất được sinh viên yêu kính về phẩm chất và khâm phục về chuyên môn. Ông dạy Ngoại Khoa, và dạy cả môn Quy Chế Hành Nghề. Ông mất ở Việt Nam vì một bệnh nhiệt đới, được sinh viên thương xót tiễn đưa về tận Hải Phòng (thi hài đưa về Pháp). GS Hoè coi ông này là Yersin thứ hai của trường.

    Henri Coppin rất giỏi về các bệnh lây, nhưng cũng mất sớm vì lây bệnh.

    Naudin thương cả sinh viên lẫn bệnh nhân. Hồi đó, đồng bào ta đói ăn, rét mặc (tuy không có bệnh) nhưng vẫn được sinh viên cho nhập viện để được ăn mỗi ngày 2 bữa cơm đạm bạc, nhưng miễn phí. Khi thầy khám, không phát hiện bệnh gì, sinh viên đành thú thật: cho vào viện để… cứu đói. Thầy liền đọc to câu danh ngôn y học: Kết luận một con người hoàn toàn không có bệnh là điều khó nhất của y học (ý nói, ai cũng có bệnh). Các anh theo dõi, khám cho kỹ, thế nào cũng tìm ra một tên bệnh để ghi vào bệnh án cho “hợp lệ”.

    Sollier rất hay gắt với sinh viên và bệnh nhân, kể cả khi vợ ông tới khám. Ông ghét tác phong luộm thuộm của sinh viên và ý thức phòng bệnh kém của người bệnh. Tuy nhiên, với sự trong sáng và tính tình thẳng “ruột ngựa” ông vẫn được cử dạy môn Quy Tắc Hành Nghề. Gia đình ông gồm bà vợ và 5 cô con gái nổi tiếng là ngoan đạo, rất chăm đi lễ nhà thờ.

    Polidori dạy môn Nhi Khoa. Khi khám bệnh ông không bắt bà mẹ ra ngoài (vì đứa trẻ khóc rất dữ trước “ông Tây”) mà cứ để bà ta bế con, dù điều này trái quy chế. Ông khám bệnh rất tỉ mỉ và phát hiện nhiều triệu trứng ẩn giấu khiến những sinh viên khám trước phát hoảng…

    PHẦN 2. DẬY QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI TRONG ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP

    Ban đầu, vẫn theo nếp cũ

    Trong 13 giáo sư đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà - công bố tháng 1 và tháng 10-1955 - có 11 vị thuộc ngành Y (1 ở ngành Dược và 1 ở ngành Toán). Điều này không khó hiểu, nếu biết rằng năm 1935 trường này đã làm lễ tốt nghiệp cho khoá tiến sĩ đầu tiên, trong khi các trường khác chỉ đào tạo cử nhân. Các vị này cùng tất cả các vị lão thành khác của ngành Y (tốt nghiệp trước 1945) đều hấp thu đạo đức y học “phi giai cấp” dưới thời thuộc Pháp.

    Khi theo cụ Hồ đi kháng chiến (1946), họ hành xử nghề nghiệp và đào tạo sinh viên cũng theo tinh thần ấy, kết hợp thêm tinh thần yêu nước. Trong kháng chiến chống Pháp, sinh viên y năm thứ 3, 4 và 5 đã mặc áo lính, phụ trách quân y cấp tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn. Mỗi năm họ chỉ được về trường ít tháng để học, do vậy họ rất biết cần học gì. Ứng xử nghề nghiệp không thể dạy thành bài riêng, mà được lồng vào các bài giảng chuyên môn kèm những ví dụ thực tế - trong đó bản thân các thầy và các vị đàn anh là những tấm gương sống động.

    1952: Bắt đầu giáo dục quan điểm Công-Nông

    Mục đích, để sinh viên y khoa thấy rõ, từ nay người chủ đất nước là Công, Nông. Trường này là của công nông, dành cho công nông. Đó là nơi Công Nông được “trí-thức-hoá”, đặng lãnh đạo cách mạng. Thành phần tuyển sinh sẽ thay đổi cơ bản. Còn trí thức, trước đây phục vụ giai cấp thống trị, nay vẫn được **** sử dụng. Họ phải tự thấy vinh dự được phục vụ công nông và qua đó mà tự cải tạo lập trường, quan điểm. Với mục đích này, từ nay các thầy chuyên môn mất hẳn vai trò dạy ứng xử nghề nghiệp, nhường vị trí này cho các thầy dạy Chính Trị.

    - Quan điểm mới được quán triệt từ năm 1953, khi trường tham gia cải cách ruộng đất - trước đó là một đợt chỉnh huấn, chuẩn bị tư tưởng. Mỗi người, cả thầy lẫn trò, đều tự kiểm điểm và nêu quyết tâm gột bỏ mọi tư tưởng sai trái. Lớp trẻ nhiệt huyết với lý tưởng Cộng Sản đã tự đề ra quyết tâm: Trí thức phải “công-nông hoá” triệt để.

    - Tiếp đó, là liên tục các đợt chỉnh huấn khác: dịp tiếp quản Hà Nội (để đề phòng tiêm nhiễm tư tưởng tư sản), dịp đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm (chống tự do kiểu tư sản), hoặc dịp xác định trường đại học Y là một pháo đài XHCN…

    - Dẫu vậy, ngày 27-2-1955 cụ Hồ gửi thư cho ngành y tế (lạ một điều), Cụ không nhắc tý gì tới quan điểm giai cấp, mà chỉ nhấn 2 điều: Đoàn kết hơn nữa; và phải “biết đau cái nỗi đau của người bệnh”. Khẩu hiệu Cụ nêu: Thầy thuốc giỏi phải như mẹ hiền. Như vậy, hai vế mà một bậc danh y Trung quốc đề ra (nói về Tài và Đức thầy thuốc: Lương y như luơng tướng Lương y như từ mẫu) cụ Hồ chỉ dùng vế thứ hai. May thay, chính nhờ vậy, sinh viên y (thuộc giai cấp tiểu tư sản) tuy một mặt phải phấn đấu về quan điểm, lập trường để được coi là con em Công Nông, nhưng mặt khác vẫn được phép tu dưỡng y đức để trở thành mẹ hiền của bệnh nhân, trước hết là bệnh nhân công-nông.

    Tăng cường học Chính Trị


    - Lập trường vững vàng sẽ đương nhiên sinh ra cách ứng xử phù hợp với bệnh nhân – đa số là công-nông.

    Chương trình mới (năm 1958) đã dành tới 1/6 thời gian để sinh viên rèn Chính Trị. Trên thực tế, cách gì cũng không thực hiện nổi cái chương trình đó - kể cả mỗi năm dành ra 1- 2 tháng đưa sinh viên về nông thôn và vùng mỏ để “học tập công nông”. Trong khi đó, các môn y học bị cắt giàm tối đa. Kế hoạch đào tạo bác sĩ chỉ cần 4 năm mới thực hiện một năm đã phá sản. Rốt cuộc, từ 1962 lại quay về quy định của bộ Đại Học: môn Chính Trị được sử dụng 12% thời gian khoá học 6 năm.

    - Thi tốt nghiệp: Từ 1959, sinh viên không cần luận án tốt nghiệp, mà thi 2 môn: Chuyên môn và Chính Trị (hồng), trong đó “hồng” quan trọng hơn “chuyên”.

    Phương châm y tế

    Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đề ra 5 phương châm y tế, được quán triệt rất kỹ trong toàn ngành. Câu chữ theo thời gian có thể thay đổi, nhưng nội dung cơ bản vẫn vậy (y tế phục vụ công-nông-binh, phục vụ sản xuất và chiến đấu; đi đường lối quần chúng; phòng bệnh hơn chữa bệnh; kết hợp Đông-Tây y…). Trường Y Hà Nội vận dụng bằng cách: lập ra bộ môn Đông Y, tăng thêm giờ cho môn Vệ Sinh, hàng năm cho sinh viên đi lao động ở nông thôn kết hợp tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh…

    Sơ kết
    . Dù quan điểm có được nâng cao, nhưng việc vận dụng chúng vào cách ứng xử cụ thể khi hành nghề… lại hoàn toàn không dễ dàng. Các thầy chính trị không bao giờ đi theo sinh viên tới bệnh viện để hướng dẫn cách ứng xử “đúng” (ngay cả với bệnh nhân là Công-Nông) và uốn nắn những ứng xử “sai”.

    Điều may mắn là cái khẩu hiệu phi giai cấp Thầy thuốc như mẹ hiền vẫn còn được đề cao, các thầy chuyên môn đã dựa vào đó để dạy sinh viên về thái độ ứng xử nhân đạo với mọi người bệnh (bệnh nhân có địa vị cao trong xã hội mới có bệnh viện riêng, sinh viên không bao giờ tới đó thực tập).

    Cũng chính nhờ cái khẩu hiệu phi giai cấp đó mà về sau Bộ Y Tế dựa vào để có thể ban hành bản Quy Định ứng xử cho nhân viên y tế toàn ngành. Đó là các tiêu chuẩn để nhân viên y tế trở thành “mẹ hiền”, bất kể trước mặt mình người bệnh bao nhiêu tuổi.

    Quả thật, Đổi Mới là quá trình gian khổ

    - Cuốn sơ thảo Lịch Sử 70 năm của trường, do các thầy bộ môn Mác-Lê viết ra (1972) đã thoá mạ “không tiếc lời” quá khứ 43 năm dưới thời thuộc Pháp. Nhưng khi kỷ niệm 80 năm thành lập, thì cái “quá khứ đẹp” này bắt đầu được thừa nhận. Tới khi kỷ niệm 90 năm, tổng bí thư tới dự lễ phát huân chương Độc Lập.

    - Từ thập niên 80, dưới sức ép của các thầy lão thành, trường dạy lại Đạo Đức Hành Nghề. Tuy vậy, các bậc lão thành chưa được đứng trên bục, mà vị trí này vẫn dành cho các thầy Chính Trị. Họ viết ra giáo trình Đạo Đức Học, theo đúng quan điểm Mác-Lênin, tuy rất hay, nhưng cũng rất khó vận dụng vào ứng xử nghề nghiệp. Gần hai chục năm, sinh viên đã học và thi theo giáo trình này. - Lời Thề tốt nghiệp cũng được phục hồi, nhưng chưa thể gọi đó là lời thể nghề nghiệp (ví dụ, thề trung thành với CNXH; thậm chí “thề” giữ gìn kỷ luật)…

    - Năm 1992 đề thi Chính Trị của sinh viên năm cuối vẫn hỏi về lý tưởng và chức năng “người thầy thuốc XHCN”. Nếu trả lời là “để kiếm sống”, qua đó phục vụ xã hội, thì chưa đạt. Phải trả lời là “cống hiến quên mình” mới được điểm cao. Trường chưa điều tra coi thử bao nhiêu % bác sĩ năm đó thực hiện được bao nhiêu % những điều mà chính họ viết ra trong bài thi.

    Hãy thôi thuyết trình đạo đức. Mà dạy thái độ để tạo kỹ năng ứng xử.


    Phương pháp sư phạm hiện đại cho thấy, trong giáo dục có 3 (và chỉ cần 3) mục tiêu: Kiến thức, Thực hành và Thái Độ.

    Phương pháp này vận dụng vào y học không những cho phép “tích cực hoá người học”, mà dạy mục tiêu Thái Độ chính là nhằm giúp người học ứng xử đúng khi giao tiếp với đối tượng nghề nghiệp (bệnh nhân, người nhà họ, đồng nghiệp và dân cư trong cộng đồng). Nói khác, điều cần đạt là sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho người học. Ví dụ, họ phải có kỹ năng giải thích, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng an ủi…v.v. Tóm lại, đó là dạy kỹ năng chung sống nói chung và phải dạy ngay từ bậc tiểu học. Lên bậc đại học, chính là môn học dạy ứng xử nghề nghiệp. Hoá ra, từ thời thuộc Pháp trường Y đã có môn này.

    Nhớ rằng 4 trụ cột vững chắc của ngôi nhà Giáo Dục (được UNESCO đề ra cho thế kỷ XXI) là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tồn tại.

    Nguồn: vietsciences.free.fr

  2. The Following User Says Thank You to drlam For This Useful Post:

    bonhe (11-02-15)

  3. #2
    drlam's Avatar
    drlam is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-18
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    3
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    5/4
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default Triết lý giáo dục nào cho Việt Nam?

    Sau bài “Giáo dục: Cần một triết l‎ý” của tác giả Dương Trung Quốc trên VietNamNet, đã có hàng chục bài khác về chủ đề này, nhưng có lẽ đáng lưu ý nhất là kết quả bàn thảo trong một hội nghị của Bộ GD-ĐT.

    Phát triển sự nghiệp giáo dục cần dựa trên một hệ thống triết lý. Đó chính là một hệ thống quan điểm chỉ đạo của **** và Nhà nước cần được vận dụng một cách sáng tạo phù hợp thực tiễn giai đoạn mới. Đó là:
    1. Giáo dục và đào tạo có sứ mạng đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
    2. Phát triển nền giáo dục của dân, do dân và vì dân là quốc sách hàng đầu
    3. Giáo dục vừa đáp ứng yêu cầu xã hội, vừa thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi cá nhân, mang đến niềm vui học tập cho mỗi người và tiến tới một xã hội học tập
    4. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng nền giáo dục giàu tính nhân văn, tiên tiến, hiện đại
    5. Phát triển dịch vụ giáo dục và tăng cường yếu tố cạnh tranh trong hệ thống giáo dục là một trong những động lực phát triển giáo dục
    6. Giáo dục phải đảm bảo chất lượng tốt nhất trong điều kiện chi phí còn hạn hẹp
    (trích dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020)

    Triết học và triết lý

    - Phương Tây không phân biệt triết học và triết lý (họ chỉ có một từ: philosophy), nhưng vẫn có 2 loại: triết học “cụ thể” (như triết học giáo dục của một trường nêu lên để thu hút học sinh); và triết học “cao siêu”, ví dụ khi Aristot nói về sứ mệnh của giáo dục. Cũng tương tự, nhưng người Việt phân biệt thành triết học với triết lý: Một thứ thì cao xa, lĩnh hội không dễ, vận dụng càng khó; còn thứ kia thì gần gũi, rất “đời thường”, để mọi người tâm niệm khi hành động và ứng xử.

    - Với người Việt, một câu danh ngôn trong sách triết học nếu hơi khó hiểu chưa hẳn đã thành triết lý của số đông. Ví dụ, câu: Biết rằng mình không biết (một điều gì đó), cũng là “biết” vậy! (tuy đã được dịch ra tiếng Việt). Trong khi đó, câu Nhân bất học bất tri lý, Ấu bất học, lão hà vi? hoặc Tiên học lễ, hậu học văn, không cần dịch sang tiếng Việt, nhưng vẫn dễ hiểu để trở thành triết lý rộng rãi của dân gian xưa.

    - Trái lại, nhiều câu chẳng bao giờ gặp trong “sách thánh hiến”, như: “không thầy đố mày làm nên” hoặc “ăn vóc, học hay” (nghĩa: phải ăn mới có sức vóc; phải học mới biết điều hay) vẫn cứ là một triết lý rất phổ quát, trường tồn. Đáng chú ý là những câu triết lý về giáo dục của các cụ ta ngày xưa đều nhằm vào người học (hoặc cha mẹ người học); ví dụ: “Muốn sang thì bắc cầu kiều; muốn con hay chữ thì yếu lấy thầy”, hoặc “người dạy ta) một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”…

    - Có triết lý cho cá nhân, nhưng cũng có triết lý cho một nhóm, một cộng đồng, kể cả triết lý cho một dân tộc. Câu “giọt máu đào hơn ao nước lã” là triết lý cho cả họ tộc; còn “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” là triết lý của dân tộc. Thật bất ngờ, khi phương Đông và phương Tây có câu triết lý rất giống nhau: Ne fais pas à un autre ce que tu ne veux pas qu’il soit te fait (chớ làm cho người khác cái điều mà bạn không muốn người đó làm cho mình); và Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân (điều gì mình không muốn thì chớ có làm cho người khác).

    Triết lý giáo dục trước hết cần nhằm vào người học

    Để bàn về triết học giáo dục (philosophy of education, educational philosophy), chúng ta có sẵn một kho tư liệu “thiên kinh, vạn quyển” (trên internet), tích luỹ từ thời Plato, Aristote, Khổng Tử… tới nay – mà một nhà triết học chuyên sâu cũng chưa chắc đã đọc hết. Nhưng cuộc cãi cọ hàn lâm sẽ bất tận và ít bổ ích. Còn để bàn về triết lý giáo dục lại khác. Đó là bàn về những điều rất cụ thể, dễ hiểu, dễ đi vào lòng người.

    Không ai cấm người học, người dạy và người quản lý có triết lý riêng. Nhưng định đề xuất triết lý cho giáo dục thì trước hết phải nhằm vào người học, vì hai lý do: 1) Ham học (chứ không phải ham dạy hoặc ham quản lý) mới là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy phát triển giáo dục (nước nghèo càng cần); 2) Nếu trên 20 triệu học sinh đất Việt tâm niệm làm theo triết lý “ham học” sẽ khiến một triệu thầy cô phải tự có triết lý phù hợp và buộc các nhà quản lý cũng vậy.

    Triết lý do dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục đưa ra, rõ ràng không phải dành cho thầy hoặc cho trò. Nếu viết lại cho phù hợp với “chuẩn”, có thể trở thành triết lý của người quản lý. Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ quản lý nước ta phải quán triệt các quan điểm của **** cầm quyền. Nhưng biến được quan điểm thành triết lý để ngày đêm tâm niệm thực hiện quả là không dễ, vì không chỉ là chuyện thay đổi câu chữ mà xong.

    Nhờ ai mới có ai?

    Trong một xã hội, phải có người học (có nhu cầu học) thì người dạy mới được sinh ra. Thực tế, người học (và cha mẹ họ) nuôi sống người dạy. Xưa, đức Khổng Tử có hàng ngàn môn sinh là do đạo cao đức trọng và do ngài không tiếc công dạy. Nhưng cũng còn do phải nhiều học trò mới nuôi nổi một thầy giỏi. Câu triết lý: Nhất sĩ, nhì nông; hết gạo chạy rông, nhất nông, nhì sĩ” còn lưu hành… thì giáo dục chưa thể phát triển. Ở nước ta, mầm mống suy thoái và chệch hướng của giáo dục bắt đầu lộ diện khi thầy cô giáo (và trí thức) bị đưa về quê để… học lao động, đặng cải tạo tư tưởng (!).

    Khi số thầy và trò trong xã hội đông đảo hơn, việc dạy và học cần đi vào nề nếp thì người quản lý mới có lý do sinh ra, được cả thầy và trò nuôi sống.

    Quan niệm “ai sinh ra ai” làm xuất hiện hai loại triết lý giằng co tới hôm nay:
    1) Giáo dục tạo ra những công dân gương mẫu phục vụ cho một xã hội; và
    2) Giáo dục tạo ra những con người có năng lực và dũng khí cải tạo xã hội.

    Do vậy, thúc đẩy nhu cầu học tập trong xã hội là cách tuyệt vời để phát triển giáo dục. Động lực mạnh mẽ nhất để có nhiều người đi học (và họ đều ham học) là hễ ai học cao, học giỏi phải thu được lợi ích vật chất và tinh thần tương xứng với học lực. Không khó để hiểu như vậy, nhưng đừng làm trái mới thật khó. Do vậy, phải là một xã hội thiển cận lắm mới để nảy sinh và lưu hành câu triết lý, tới nay chưa thể quên: “Văn hay, chữ tốt không bằng học dốt nhiều tiền”.

    Một ví dụ về sự đề xuất triết lý nhằm vào người học.

    Các cụ thời Đông Kinh Nghĩa Thục đề ra triết lý: “Học thật (để có) nghề thật” (thực học - thực nghiệp). Người học, bằng trực giác, hiểu ngay rằng… hễ có nghề “thật” sẽ có thu nhập “thật” nuôi thân và gia đình. Đây sẽ là lực lượng chi phối chương trình (của nhà nước) và cách dạy (của thầy), vì học sinh sẽ chỉ chọn nơi nào “dạy thật”, “dạy thiết thực” để xin học. Và còn gì ích lợi cho xã hội hơn, nếu ai cũng có một nghề “thật”: từ ông quan cho tới dân thường? Thực dân Pháp bóp chết Đông Kinh nghĩa thục, nguyên nhân sâu xa chính là do cái triết lý này.

    Xin được thán phục các cụ ta đã đề xuất được một triết lý theo nguyên tắc ngàn đời không cũ: 1) Về hình thức, không cần “hoành tráng” cứ như nghị quyết, khẩu hiệu) và không tỏ ra đứng trên cao ban phát xuống; 2) Về nội dung, trước hết, trên hết, phải nêu được lợi ích của bản thân người học - nếu họ “học thật”; 3) lợi ích của người học phù hợp lợi ích chung khiến họ yên tâm: không bị quy kết là… cá nhân chủ nghĩa (!).

    Triết lý nào cho giáo dục nước nhà?

    Nếu nói thiếu sót số 1 của dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020, tôi xin nói ngay là: Nó không thể hiện nội dung các văn bản quan trọng nhất của UNESCO về giáo dục cho thế kỷ 21, nhất là về triết lý.

    Khỏi cần nói, Việt Nam luôn luôn nhấn mạnh “hội nhập” và từ lâu đã tham gia UNESCO.

    Bản báo cáo Học tập: Kho báu nội tại của Uỷ ban quốc tế về GD cho thế kỷ 21 (International Commission on Education for the Twenty-first Century) thuộc UNESCO, được vị chủ tịch Jacque Delors đọc vào tháng 4 năm 1996, công bố năm 1998, nhanh chóng được thế giới đón nhận vì thế kỷ 21 sắp ập tới. Ai cũng thấy nền giáo dục truyền thống phải thay đổi do sự xuất hiện nền kinh tế tri thức. Điều vừa học được có nguy cơ nhanh chóng lạc hậu, phải bổ sung. Do vậy, Jacque Delors đưa ra khái niệm học suốt đời (Lifelong Learning). Ai cũng phải học, người học thuộc mọi lứa tuổi, do vậy khái niệm xã hội học tập ra đời (thay thế xã hội công nghiệp của thế kỷ trước). Phương pháp dạy truyền thống (ông thầy là trung tâm của lớp, còn trò thụ động đợi thầy truyền đạt để tiếp thu) phải được thay thế. Mục tiêu cao nhất của phương pháp dạy mới - tích cực (trò là trung tâm của lớp) là biến người học thành người tự học. Internet là giải pháp thích hợp nhất. Do vậy, năng lực học tập là kho báu nội tại của mỗi con người trong xã hội mới, từ đó mà suy ra sứ mạng của giáo dục ở thế kỷ 21 phải là gì.

    Tính triết học cao cả của văn bản: Bốn trụ móng

    Tính triết lý toát ra trong mọi phần của văn bản, nhưng tập trung nhất ở chương IV, nhan đề Bốn trụ móng của giáo dục (The Four Pillars of Education).

    Theo Delors, một nền giáo dục có sức sống là nhờ trong xã hội có nhiều người học và đều ham học. Sự ham học sẽ mạnh mẽ và bền vững nếu người học đạt được mục đích mà trước khi học họ tự đặt ra cho mình, miễn là mục đích này phù hợp với lợi ích xã hội. Như vậy, nhu cầu và mục đích học tập là cái trụ móng để ngôi nhà giáo dục đứng vững.

    Với thế kỷ 21, các trụ móng của giáo dục phải thể hiện đầy đủ mục đích học tập của từng người và của mọi người: 1) dù người đó tuổi nào, trình độ nào, sống ở đâu, làm nghề gì; 2) dù anh ta theo tôn giáo nào và ý thức hệ là gì.

    Và 4 trụ móng được đề xuất là:

    Học để biết
    (Learning to know)
    Học để làm
    (Learning to do)
    Học để chung sống
    (Learning to live together)
    Học để tồn tại
    (Learning to be)

    Ở nước ta, học sinh phổ thông đã được thầy cô dạy Văn cho bình luận về 4 trụ của giáo dục. Lẽ ra, người lớn phải bỏ thời gian, công sức thảo luận cho kỹ trước đã. Vậy mà không hiểu sao, dự thảo Chiến lược của ngành lại không lấy đó làm căn cứ.

    Vận dụng và biến thành triết lý cho người học nước ta

    Trong văn bản, mỗi trụ móng đều được giải thích, với văn phong sáng rõ và nội dung súc tích. UNESCO giữ bản quyền để không ai có thể tuỳ tiện thay đổi, nhưng ai cũng được sử dụng, vận dụng, trừ khi nhằm mục đích thương mại.
    Vận dụng thực hiện tới mức nào tuỳ hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

    - Học để biết. Nó đơn giản và dễ hiểu như chân lý; và là mục đích nguyên thuỷ của người học. Do vậy, đủ tiêu chuẩn trở thành triết lý (ta đã từng có câu “ăn vóc, học hay”).

    Nếu trở thành triết lý, nó sẽ quy định cách dạy kiến thức của thầy và quy định chương trình kiến thức mà người quản lý ban hành. Bởi vì đã có quy định thế nào là “biết”.

    Một nhà thơ, nếu thích có thể tìm hiểu để biết về Big Bang, và đó là chuyện cá nhân. Với toàn xã hội thì những điều cần “biết” phải mang lại lợi ích mưu sinh (câu của ta: “cần gì học nấy)”.

    Nếu “học để biết”, thì trước hết phải biết cái gì (the know what). Đó chính là chương trình kiến thức học do Bộ Giáo Dục ban hành. Tiếp đó, phải “biết” vận dụng kiến thức (the know-how). Chính nhờ quy định này mà ông thầy không được phép tự biến thành “cuốn sách giáo khoa biết nói” để biến trò khỏi thành cái túi nhớ. Cuối cùng, người học phải biết dùng kiến thức để giải quyết (trên lý thuyết) các tình huống liên quan (the know how-to-do).

    Hai cái “biết” sau (the know-how và the know how-to-do) đòi hỏi rất nhiều công sức và thời gian của thầy, nhưng sự bổ ích sẽ khiến việc học quả là niềm vui; khẩu hiệu “đi học là hạnh phúc” sẽ không “xuông” như hiện nay. Hệ quả tích cực sẽ là: 1) Chương trình không thể quá tải, mà buộc phải tinh lọc - để có thời gian dạy vận dụng và ứng dụng. Người ta sẽ “học một - biết mười”; 2) Tạo ra cách dạy và học tích cực, tiến tới tự học.

    Tôi nói dài dòng vì tôi đang bất lực khi thấy cái chương trình “nhồi nhét” hiện nay.

    - Học để làm. Nó đơn giản như một triết lý của người sắp bước vào đời. Người học hiểu quá rõ: xã hội chỉ trả tiền nếu mình “biết làm”, chớ không dừng lại ở “biết nói”. Các cụ ta đã từng chê người học mà không biết làm bằng câu triết lý “học chẳng hay, cày chẳng biết”.

    Nhưng “làm” ngày nay không chỉ là dùng sự khéo léo của cơ bắp để hoàn thành một công việc, mà còn gồm rất nhiều kỹ năng khác. Điều này cứ để xã hội yêu cầu nhà trường. Sẽ tới lúc học sinh vừa mới đọc thông viết thạo phải được trang bị kỹ năng tìm kiếm trên mạng.

    Học thực hành thường tốn kém (phải có trang thiết bị). Do vậy, dễ bị những nước nghèo thay bằng lý thuyết, đưa đến tình trạng người học chỉ nói giỏi mà không làm được. Nếu trở thành triết lý, người học sẽ đổ xô vào trường nào quảng cáo rằng “đảm bảo những lý thuyết đã học đều được thực hành”.

    - Học để chung sống. Khoan nói mục tiêu cao nhất là duy trì hoà bình và hợp tác cho nhân loại. Đối lập là đương nhiên, muốn chung sống phải biết chấp nhận, khoan dung và biết đối thoại. Hy vọng nếu giáo dục làm được điều này, thế giới sẽ không còn đối đầu, xung đột, khủng bố, mà chỉ còn hợp tác, tương hỗ và cạnh tranh lành mạnh.

    Mục tiêu chung là mỗi cá nhân, từ tuổi mẫu giáo, phải học để trở thành một thành viên được hoan nghênh trong tập thể của mình; đồng thời phải là thành viên tích cực.

    Quả vậy, ngay một em bé lớp mẫu giáo đã phải học cách chung sống với bạn, với ông bà, cha mẹ, anh chị em. Đứa trẻ học môn Đạo Đức, Luân Lý, hoặc Giáo Dục Công Dân… rốt cuộc phải có kỹ năng ứng xử tốt trong gia đình, nhóm bạn, xã hội…

    - Học để tồn tại (câu triết lý của một nhân vật trong vở kịch: to be or not to be) - có người dịch là học để tự khẳng định. Văn bản gốc đã nói rõ về nội hàm. Nó là kết quả tổng hợp của cả 3 cái “học để…” ở trên. Người học được xã hội đánh giá và đãi ngộ xứng đáng cả về vật chất, tinh thần. Đồng thời xứng đáng được tôn vinh, vì sự cống hiến cao gấp bội sự đãi ngộ.

    Với Việt Nam, tôi xin đề xuất một triết lý nữa: Học để thoát nghèo hèn. Triết lý này tồn tại cho đến khi lời của Hồ Chí Minh thành hiện thực: “Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu hay không là nhờ công học tập của các cháu”.

    GS. Nguyễn Ngọc Lanh

    LTS Dân trí - Triết lý giáo dục có vai trò như “kim chỉ nam” của chiến lược phát triển giáo dục, Nhưng muốn xác định cho đúng triết lý giáo dục thì trước hết phải hiểu rõ và thống nhất về khái niệm, nội hàm của từ “triết lý”. Sau nữa là xác định rõ việc xây dựng Triết lý giáo dục cho đối tượng nào (Thầy, Trò hay Người quản lý) và dựa trên căn cứ nào?

    Bài viết trên đây của GS. Nguyễn Ngọc Lanh là những suy nghĩ có căn cứ và có chiều sâu về Triết lý giáo dục, đáng được trân trọng tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Chiến lược phát triển giáo dục 2009-2020

    Nguồn: dantri.com.vn

  4. The Following User Says Thank You to drlam For This Useful Post:

    bonhe (11-02-15)

  5. #3
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    306
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    133/84
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Bẩm cụ chủ thớt,
    Cụ giáo Nguyễn Ngọc Lanh còn nhiều bài nữa, đọc cũng có chỗ kiến giải độc đáo. Thỉnh cụ xem xét cho thượng tải (upload) dần lên để anh em hậu sinh có dịp mở rộng tầm mắt, biết chất giáo sư trường y hà nội.
    Nhược bằng có gì quá nhời, xin cụ thí cho hai chữ đại xá.
    Ơn cụ lắm lắm.

  6. #4
    Tuberculosis's Avatar
    Tuberculosis is offline Sinh viên Y3
    Giấy phép số
    NT-632
    Cấp phép ngày
    Sep 2012
    Bệnh nhân
    67
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    30/22
    Kinh nghiệm khám
    9

    Default

    Các thầy có nhiều bài hay lắm, nhưng còn để trong bụng nhiều, chẳng qua là các thầy "nhịn" thôi. Em nói nghiêm túc, cấm các bác cười đấy nhé,

  7. #5
    hoàng yến's Avatar
    hoàng yến is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-9559
    Cấp phép ngày
    Sep 2014
    Bệnh nhân
    1
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    0/0
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default

    câu này hay úa Phương Tây không phân biệt triết học và triết lý (họ chỉ có một từ: philosophy), nhưng vẫn có 2 loại: triết học “cụ thể” (như triết học giáo dục của một trường nêu lên để thu hút học sinh); và triết học “cao siêu”, ví dụ khi Aristot nói về sứ mệnh của giáo dục. Cũng tương tự, nhưng người Việt phân biệt thành triết học với triết lý: Một thứ thì cao xa, lĩnh hội không dễ, vận dụng càng khó; còn thứ kia thì gần gũi, rất “đời thường”, để mọi người tâm niệm khi hành động và ứng xử.

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. [Tổng quan] Dự phòng sau phơi nhiễm HIV do nghề nghiệp
    By henry27 in forum TRUYỀN NHIỄM
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 10-10-15, 23:40
  2. [Tổng quan] Sức khỏe nghề nghiệp
    By MedBook in forum ĐIỂM SÁCH
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 24-07-14, 09:08
  3. [Cafe] Nghề đã trở thành nghiệp ăn vào máu không thể bỏ được
    By drchinh in forum QUÁN CAFE NỘI TRÚ
    Bệnh nhân: 6
    Last Post: 21-08-13, 08:46

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •