Chúng ta có thể bị đái tháo đường típ 2 từ lúc mới sinh ra hay không?
Không. Đái tháo đường típ 2 là bênh phát triển sau một thời gian sống. Bệnh thường xảy ra ở những người trên 40 tuổi, nhưng càng ngày càng có nhiều trẻ em và thiếu niên bị đái tháo đường típ 2, đặc biệt là ở những trẻ thừa cân và ít vận động.
Nếu cha, mẹ, hoặc cả hai bị đái tháo đường típ 2 thì khả năng con bị bệnh này là bao nhiêu?
Nếu chỉ cha mẹ bị đái tháo đường típ 2 thì con có nguy cơ mắc bệnh thấp; nếu cả cha và mẹ đều bị thì con có nguy cơ bị đái tháo đường típ 2 rất cao. Nếu trong dòng họ của bạn có rất nhiều người bị đái tháo đường típ 2 thì bạn phải tích cực giảm cân và vận động nhiều hơn nữa để hạn chế nguy cơ bị bệnh này.
Chị tôi đã bị đái tháo đường típ 2. Vậy tôi có cần đi xét nghiệm không?
Nếu bạn có anh chị em bị đái tháo đường típ 2 thì bạn có nhiều nguy cơ bị bệnh này. Nếu người bênh là anh chị em sinh đôi cùng trứng với bạn thì bạn có nguy cơ mắc bệnh rất cao. Hãy đi xét nghiệm để biết mình có bệnh hay không. Nếu không bị đái tháo đường típ 2 thì bạn vẫn phải tích cực áp dụng các biện pháp ngăn ngừa vì bệnh có thể xuất hiện trong tương lai.
Tôi bị thừa cân. Như vậy tôi sẽ bị đái tháo đường?
Không hẳn như vậy. Nhưng thừa cân sẽ làm cơ thể giảm khả năng điều chỉnh đường huyết, tức có thể dẫn đến đái tháo đường típ 2. Bạn có thể làm giảm nguy cơ đái tháo đường típ 2 bằng cách giảm cân. Vị trí mỡ tích tụ cũng có ý nghĩa quan trọng. Mỡ thừa quanh vùng eo dễ bị đái tháo đường típ 2 hơn ở các vùng khác.
Đặc tính chủng tộc có là yếu tố nguy cơ của đái tháo đường típ 2?
Đúng. Nếu bạn có nguồn gốc Nam Á, thuộc chủng tộc Ca-ri-bê gốc Phi thì bạn có nguy cơ bị đái tháo đường típ 2 cao gấp 5 lần so với chủng tộc da trắng.
Tôi sinh con to nhưng không bị đái tháo đường thai kỳ. Như vậy tôi không bị đái tháo đường típ 2 phải không?
Một trong những lý do trẻ sơ sinh ra to hơn bình thường là do chúng phải sản xuất nhiều insulin hơn để xử lý lượng glucose thừa từ mẹ đi qua. Dù cho bạn không bị đái tháo đường thai kỳ, bạn vẫn phải theo dõi đường huyết để đánh giá nguy cơ xuất hiện bệnh trong tương lai.
Huỳnh Văn Ninh (st)