Results 1 to 1 of 1

Thread: Chẩn đoán và điều trị bệnh lý phần mềm quanh khớp

  1. #1
    drbinh's Avatar
    drbinh is offline Sinh viên Y2
    Giấy phép số
    NT-51
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    42
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    37/19
    Kinh nghiệm khám
    9

    Default Chẩn đoán và điều trị bệnh lý phần mềm quanh khớp

    Ths. Bs. Bùi Hải Bình
    Khoa Cơ Xương Khớp - Bệnh viện Bạch Mai

    Bệnh lý phần mềm quanh khớp là một nhóm bệnh rất thường gặp. Tuỳ theo tổn thương viêm ở gân, dây chằng, túi thanh dịch hay bao gân mà có các bệnh viêm gân, viêm bao hoạt dịch gân, viêm gân nơi bám tận và một số bệnh khác như ngón tay lò so, hội chứng đường hầm cổ tay, ống gót chân. Trong nhóm bệnh này, viêm gân và bao gân vùng khuỷu tay, cổ bàn tay, vai, gối và quanh mắt cá thường gặp nhất. Có thể kể tên một số bệnh hay gặp như viêm gân gấp (còn gọi là ngón tay lò xo vì ngón tay bị bệnh bật như lò xo) ở bàn tay; viêm mỏm trâm quay, trâm trụ, hội chứng DeQuervain ở vùng cổ tay; viêm lồi cầu trong, lồi cầu ngoài xương cánh tay ở vùng khuỷu tay; viêm gân quanh khớp vai; viêm gân bánh chè, lồi cầu trong xương chày, xương đùi ở vùng gối; ở cổ chân hay gặp viêm gân gót (gân Achille), viêm cân gan chân vùng xương gót (còn gọi là gai xương gót).

    Bệnh phần mềm quanh khớp không nguy hiểm nhưng thường gây đau dẫn đến hạn chế các hoạt động sinh hoạt, lao động thường ngày của bệnh nhân. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi song gặp chủ yếu ở nữ, tuổi trung niên hoặc cao tuổi. Nguyên nhân gây bệnh phần mềm quanh khớp thường khó xác định, tuy nhiên người ta thấy có một số yếu tố nguy cơ gây bệnh như chấn thương hoặc các vi chấn thương do các hoạt động lặp đi lặp lại kéo dài ở một số ngành nghề như vận động viên chơi thể thao (chơi tennis), nội trợ, bế trẻ em, làm nghề thủ công, thợ cơ khí, đi dầy dép cao gót… Tuổi cao, giới nữ cũng là các yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Ngoài ra bệnh còn hay gặp ở những người mắc các bệnh lý toàn thân như: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, đái tháo đường…

    Chẩn đoán bệnh thường khá đơn giản, chủ yếu dựa vào dấu hiệu đau ở một số vị trí tổn thương đặc hiệu. Đau từng lúc hoặc liên tục cả ngày và đêm, đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi; đau có thể lan dọc lên phía trên hoặc dưới của gân. ấn tại chỗ thường có điểm đau chói. ít khi có biểu hiện sưng, nóng, đỏ. Khi làm một số nghiệm pháp co giãn cơ và gân nơi tổn thương bệnh nhân thấy đau tăng lên. Triệu chứng toàn thân tuỳ thuộc căn nguyên, nhìn chung thường bình thường. Các xét nghiệm máu không có thay đổi gì đặc biệt trừ khi có bệnh lý toàn thân phối hợp. Chụp X quang nơi tổn thương chủ yếu giúp phân biệt với các bệnh kèm theo có tổn thương tại khớp như viêm khớp dạng thấp, thoái hoá khớp, viêm cột sống dính khớp…Trên X quang có thể phát hiện hình ảnh calci hoá ở đầu gân. Siêu âm gân cơ, chụp cộng hưởng từ có giá trị trong chẩn đoán xác định ở những trường hợp viêm gân, bao gân không điển hình, nhất là ở các vị trí có nhiều gân cơ như vai, khớp háng, khớp gối, cổ chân.

    Điều trị bệnh lý phần mềm quanh khớp bao gồm các biện pháp không dùng thuốc, các biện pháp dùng thuốc.

    Các biện pháp không dùng thuốc:

    - Giảm hoặc ngừng vận động tại vùng gân tổn thương tới khi hết đau. Đây là điều kiện quan trọng bởi nếu không bệnh sẽ tồn tại dai dẳng và dù có khỏi cũng rất dễ tái phát. Ví dụ nếu bệnh nhân chơi cầu lông hay tennis gây đau khuỷu tay (viêm lồi cầu ngoài hoặc lồi cầu trong xương cánh tay) thì phải nghỉ chơi ít nhất là trong thời gian đang đau.

    - Cố định tạm thời vùng gân tổn thương bằng băng chun, thậm chí dùng nẹp hoặc máng bột, dụng cụ chỉnh hình…

    - Điều trị vật lý trị liệu từ đơn giản như chườm lạnh tại chỗ (thường dùng trong giai đoạn cấp tính có sưng, nóng, đỏ) đến các biện pháp đòi hỏi có phương tiện như sóng siêu âm, sóng ngắn, hồng ngoại.

    - Luyện tập phục hồi chức năng có thể được áp dụng như tập kéo giãn gân chủ động, tăng dần cường độ nhằm phục hồi chức năng cho gân tổn thương sau giai đoạn viêm cấp tính. Thường áp dụng trong bệnh lý gân Achille, gân bánh chè nhưng không áp dụng đại trà cho mọi bệnh nhân vì có thể tăng đau.

    Các biện pháp dùng thuốc:

    Các thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol uống, hoặc các thuốc chống viêm giảm đau không steroid như diclofenac uống hay bôi tại chỗ, meloxicam uống… Tuyệt đối không dùng thuốc đường toàn thân chứa steroid uống hay tiêm bắp như prednisolon, dexamethason, K-cort…vì gây nhiều tác dụng phụ có hại. Hiện nay có một số người lạm dụng các thuốc trên dẫn đến các biến chứng như hội chứng Cushing do thuốc, loãng xương, tăng huyết áp, đái tháo đường, teo cơ, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn… hoặc suy thượng thận cấp nếu dừng thuốc đột ngột (có thể gây tử vong nhanh chóng).


    Tiêm corticoid tại chỗ là phương pháp điều trị thông dụng trong bệnh lý phần mềm quanh khớp. Hiệu quả giảm đau tốt, tuy nhiên cần nhấn mạnh là chỉ dùng thuốc khi có bác sỹ chuyên khoa Khớp chỉ định, tiêm đúng kỹ thuật, đúng liều lượng, đúng liệu trình, tại nơi vô khuẩn tuyệt đối. Hiện nay có tình trạng lạm dụng thuốc dẫn đến nhiều biến chứng đáng tiếc. Các chế phẩm corticoid tiêm khớp thường dùng là dạng dịch treo như hydrocortison acetat, liều mỗi lần tiêm từ 5-50mg (0,2-2ml) tuỳ vị trí tiêm, không quá 3 lần cho mỗi đợt điều trị, mỗi mũi cách nhau 3- 4 ngày; Depo medrol (methylprednisolon acetat) tác dụng kéo dài hơn, liều 10- 40mg (0,25- 1 ml) mỗi lần tuỳ vị trí tiêm, mỗi mũi cách nhau 7-10 ngày, không quá 2 lần trong một đợt. Với cả hai thuốc, mỗi đợt điều trị cách nhau 3-6 tháng, mỗi năm không quá 3 đợt. Ngoài ra có thể dùng Diprospan (betamethasone dipropioate) là loại tác dụng kéo dài hơn cả Depo medrol. Tuyệt đối không được tiêm corticoid tại chỗ khi có nhiễm khuẩn, nấm hoặc chưa loại trừ được nhiễm khuẩn tại chỗ hoặc gần vị trí tiêm. Thận trọng khi dùng thuốc ở những bệnh nhân cao huyết áp, đái tháo đường, viêm loét dạ dày tá tràng, đang dùng thuốc chống đông hay có rối loạn đông máu. Các khó chịu hay biến chứng tại chỗ có thể gặp như đau tăng lên (thường trong 24 giờ đầu), nhiễm khuẩn (nếu tiêm trong điều kiện không đảm bảo vô khuẩn), đứt gân, rối loạn sắc tố hay teo da- cơ tại chố.

    Các điều trị khác bao gồm phẫu thuật giải phóng chèn ép trong hội chứng đường hầm cổ tay, hội chứng ống gót chân hay cắt bỏ phần viêm nếu điều trị nội khoa thất bại (ít khi có chỉ định). Điều trị tốt các bệnh chính kèm theo nếu có.

    Tiên lượng bệnh lành tính, nhìn chung đa số bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị nội khoa song tỷ lệ tái phát còn cao, nhất là đối với các bệnh nhân không loại bỏ được các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

  2. The Following User Says Thank You to drbinh For This Useful Post:

    hoangtrang (31-10-12)

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 20-10-14, 16:09
  2. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 17-02-13, 19:40

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •