Results 1 to 1 of 1

Thread: Thuốc tây y trong rối loạn tình dục nam- nữ

  1. #1
    thanhtam's Avatar
    thanhtam is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-32
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    157
    Cám ơn
    22
    Được cám ơn
    190/82
    Kinh nghiệm khám
    25

    Default Thuốc tây y trong rối loạn tình dục nam- nữ

    TS BS Nguyễn Thành Như
    BV Bình Dân, TPHCM
    15/3/2012

    Đại cương

    Theo Hội Tâm Thần Học Hoa Kỳ (DSM-IV, 1994), rối loạn tình dục nam và nữ bao gồm các nhóm sau:
    Rối loạn ham muốn tình dục, bao gồm giảm ham muốn tình dục và ác cảm tình dục.
    Rối loạn kích thích tình dục, bao gồm rối loạn kích thích tình dục nữ và rối loạn cương ở nam.
    Rối loạn cực khoái, bao gồm rối loạn cực khoái nữ, rối loạn cực khoái nam, xuất tinh sớm ở nam.
    Rối loạn cảm giác đau tình dục, bao gồm đau khi giao hợp và co thắt âm đạo.

    Theo WHO, 1974: “Có những quyền cá nhân cơ bản, bao gồm quyền có sức khỏe tình dục và khả năng hưởng thụ và kiểm soát hành vi tình dục và sinh sản phù hợp với đạo đức xã hội và cá nhân”. Và theo Ủy Ban Huấn Luyện Quốc tế về Sức khỏe Tình Dục Nam (International Education Council on Male Sexual Health), 2001: “Những người bị rối loạn tình dục đều có quyền được chẩn đoán và điều trị thích hợp”.

    1. Rối loạn cương

    1.1. Định nghĩa:

    Rối loạn cương, thay thế cho từ bất lực, là tình trạng mà một người đàn ông không thể đạt tới hay duy trì được sự cương dương vật đủ cứng để giao hợp thoả mãn (NIH Consensus Development Panel on impotence. JAMA 1993, 270:83-90). Định nghĩa này giúp phân biệt rối loạn cương với các thể rối lọan tình dục khác là rối loạn ham muốn tình dục, rối loạn cực khoái và rối loạn cảm giác tình dục.

    1.2. Nguyên nhân:

    Chức năng cương bình thường đòi hỏi sự phối hợp của các yếu tố tâm sinh lý, nội tiết, thần kinh, mạch máu và thể hang. Sự biến đổi của bất cứ thành phần nào trong các yếu tố trên đều có thể gây ra rối loạn cương. Hiện nay, rối loạn cương được biết là do bệnh thực thể gây ra, nhất là ở bệnh nhân lớn tuổi, yếu tố tâm lý chỉ còn chiếm khoảng 25% các trường hợp rối loạn cương.

    1.3. Điều trị:

    Có hai nhóm thuốc điều trị rối loạn cương: điều trị không đặc hiệu (độc lập với nguyên nhân gây ra rối loạn cương) và điều trị đặc hiệu theo nguyên nhân. Các biện pháp điều trị không đặc hiệu tỏ ra có hiệu quả trong đa số trường hợp rối loạn cương.

    1.3.1. Thuốc điều trị đặc hiệu: Liệu pháp nội tiết

    Testosterone có thể cải thiện chức năng cương ở một số bệnh nhân bị suy tuyến sinh dục (hypogonadism). Hiện đã có những dạng thuốc testosterone mới, cũng như những dạng uống không kèm theo độc tính gan. Tăng prolactin huyết thường được xử trí bằng bromocryptine hay những thuốc tương tự. Đôi khi, phẫu thuật được dùng để cắt bỏ những khối u tăng tiết prolactin.

    1.3.2. Các thuốc điều trị không đặc hiệu

    1.3.2.1. Thuốc uống: Trị liệu bước một (first line therapy)

    Được xếp vào nhóm trị liệu bước một vì các thuốc uống dễ sử dụng, không xâm lấn, hồi phục được, tác dụng phụ thấp, thích hợp cho nhiều bệnh nhân. Hiện tại, trong nhóm này là các thuốc ức chế men PDE-5 (PDE5i) như sildenafil (Viagra, Kamagra), vardenafil (Levitra, Varafil), tadalafil (Cialis, Synalis). Không có thuốc nào trong ba thuốc PDE5i trên tỏ ra vượt trội hơn các thuốc khác trong nhóm, nên sử dụng thuốc nào trong ba thuốc PDE5i trên là tùy thuộc vào sự ưa thích của mỗi cá nhân bệnh nhân và thầy thuốc. Các chất ức chế PDE-5 không làm tăng nồng độ oxít nitríc (NO, nitric oxide), nhưng làm tăng hiệu quả của NO trên sự giãn cơ trơn. Vì thế, nếu không có ham muốn tình dục để khởi phát quá trình phóng thích NO, các chất ức chế PDE-5 không có tác dụng. Hiệu quả của các thuốc này trên lâm sàng là khoảng 80%.

    Sự hấp thu của sildenafil bị giảm khi uống chung với thức ăn, nhưng sự hấp thu của vardenafil và tadalafil không bị ảnh hưởng bởi thức ăn.

    a. Liều dùng: Liều khởi đầu đối với sildenafil là 50mg trước khi quan hệ tình dục 1 giờ, tránh xa bữa ăn, thời gian tác dụng của thuốc là 4-8 giờ và không nên sử dụng quá 1 viên trong vòng 24 giờ; với vardenafil là 10mg trước khi quan hệ 30 phút, thời gian tác dụng của thuốc là 10 giờ và không nên sử dụng quá 1 viên trong vòng 24 giờ; và với tadalafil là 10 mg trước khi quan hệ 2 giờ, thời gian tác dụng của thuốc là 36 giờ và không nên sử dụng quá 1 viên trong vòng 48 giờ.

    b. Thận trọng: Đối với người đang sử dụng các thuốc như ritonavir, cần giảm liều khởi đầu. Nếu dùng sildenafil kèm với darunavir (kết hợp với ritonavir) thì liều khởi đầu là 25mg, sử dụng không quá 1 lần trong vòng 48giờ; vớivardenafil là 2,5mg, sử dụng không quá 1 lần trong vòng 72 giờ; và với tadalafil là 10 mg, sử dụng không quá 1 lần trong vòng 72 giờ. Bệnh nhân suy gan, suy thận, trên 65 tuổi hay đang dùng những thuốc ức chế men P450 3A4 (như cimetidine, erythromycine và ketaconazole) cần khởi đầu bằng liều thấp.

    c. Chống chỉ định: Những bệnh nhân đang sử dụng các thuốc làm giãn mạch vành có nitrate như Nitromin®t, Imdur® (để phòng ngừa và điều trị đau thắt ngực) hay các chất tăng sảng khoái có nitrate vì tác động hiệp đồng gây giãn mạch của nitrate và PDE5i có thể gây tụt huyết áp nặng, dẫn đến tử vong.

    d. Tác dụng phụ: Ngoài tác động ức chế PDE-5, các chất này còn có tác động ức chế các thành phần khác của nhóm PDE (từ PDE-1 đến PDE-11). Sildenafil và vardenafil ức chế nhẹ PDE-6, ở võng mạc, nên một số bệnh nhân sau khi dùng thuốc có thể có thay đổi thị giác tạm thời. Đau cơ do tadalafil có liên quan đến sự ức chế PDE-11A. Theo báo cáo của FDA thì không có bằng chứng có mối liên hệ giữa tần suất tử vong bị tăng lên ở những người sử dụng sildenafil so với dân số chung.

    1.3.2.2. Thuốc tiêm thể hang: Trị liệu bước hai (second line therapy)

    Thuốc giãn mạch được tiêm vào trong thể hang để làm giãn động mạch và máu đổ đầy các xoang hang. Cương thường xảy ra trong vòng 15 phút và kéo dài khoảng 1 giờ. Papaverine là thuốc đựơc sử dụng đầu tiên để tiêm thể hang, nhưng do dễ có biến chứng cương đau dương vật kéo dài (priapism) nên papaverine ít được sử dụng. Hiệu quả của papaverine là 84,8%, với 65% trường hợp cương tự nhiên xuất hiện trở lại. Alprostadil thường được sử dụng với hiệu quả khoảng 75% và ít gây ra cương đau dương vật hơn nhiều so với papaverine, nhưng lại gây đau dương vật nhiều nhất (40% bệnh nhân).

    2. Rối loạn xuất tinh

    2.1. Xuất tinh sớm

    a. Định nghĩa:

    Năm 2008, Hội Y Học Giới Tính Thế Giới (ISSM, International Society for Sexual Medicine) quyết định thành lập một ủy ban gồm các chuyên gia trong lĩnh vực tình dục, nam khoa trên thế giới, và đưa ra một định nghĩa xuất tinh sớm dựa trên chứng cứ: “Xuất tinh sớm là một rối loạn tình dục nam đặc trưng bởi xuất tinh xảy ra luôn luôn hay hầu như luôn luôn trước hay trong vòng một phút sau khi đưa dương vật vào âm đạo, không thể kiềm chế sự xuất tinh mỗi khi hay gần như mỗi khi đưa dương vật vào âm đạo và tình trạng này gây ra các hậu quả tiêu cực cho bản thân như chán nản, bực bội, tránh quan hệ tình dục.” (McMahon et al, J Sex Med 2008;5:1590–1606).

    Yếu tố quan trọng nhất trong định nghĩa này là thời gian từ lúc dương vật được đưa vào âm đạo cho tới khi xuất tinh, còn được gọi là Thời Gian Chờ Xuất Tinh Trong Âm Đạo (IELT). Với định nghĩa này, thời gian 1 phút được xem là mốc để đánh giá việc xuất tinh có bị sớm hay không.

    b. Nguyên nhân

    Nguyên nhân gây ra xuất tinh sớm thường được nghĩ là do yếu tố tâm lý. Tuy nhiên yếu tố tâm lý như lo âu thường gây ra giảm ham muốn, rối loạn cương và chậm xuất tinh chứ không dẫn đến xuất tinh sớm; còn sự phấn khích quá mức chỉ gây ra xuất tinh sớm tạm thời chứ không dẫn đến xuất tinh sớm hằng định. Ngày nay, xuất tinh sớm được nghĩ là do sự tăng nhạy cảm của dương vật hay rối loạn thụ thể 5-Hydroxytryptamine (5-HT) tại trung tâm kiểm soát xuất tinh ở não.

    c. Chẩn đoán:

    Dựa trên định nghĩa này, IELT dưới 1 phút, xảy ra thường xuyên trong điều kiện có bạn tình ổn định, được xem là xuất tinh sớm.

    d. Điều trị:

    - Thuốc tê thoa qui đầu: Thuốc tê thoa tại chỗ như kem hay thuốc xịt lidocaine và prilocaine, làm giảm cảm giác qui đầu để làm tăng khả năng kiềm chế sự xuất tinh. Tuy nhiên, thuốc tê thường gây giảm sự cương cứng, có thể gây cảm giác “bì bì” ở dương vật, và nếu nó ngấm qua âm đạo thì cũng gây cảm giác tê rần ở âm đạo.

    - Các PDE5i (sildenafil, vardenafil, tadalafil): Đây là những thuốc dùng trong điều trị rối loạn cương. Do vậy, các thuốc này có thể có hiệu quả ở những người vừa bị rối loạn cương, vừa bị xuất tinh sớm; các trường hợp khác ít hiệu quả.

    - Các SSRI: Các thuốc này có thể uống mỗi ngày, ví dụ paroxetine (20 - 40 mg), sertraline (50 - 100 mg), và fluoxetine (20 - 40 mg). Clomipramine (10 - 50 mg), một thuốc chống trầm cảm ba vòng cũng có tác dụng tốt trong điều trị xuất tinh sớm. Tác dụng phụ của chúng là mệt mỏi, ngáp, buồn nôn, nhược cơ, run, phân lỏng. Những tác dụng phụ này thường xuất hiện trong tuần đầu và mất dần trong 2-3 tuần. Đôi khi, chúng còn gây giảm ham muốn tình dục và giảm vừa phải độ cứng dương vật; khi ngưng thuốc thì các tình trạng này cũng mất đi. Ngoài ra, các thuốc này cũng có thể uống theo nhu cầu, khoảng 5 giờ trước khi giao hợp có thể giúp kéo dài thời gian xuất tinh.

    - Tất cả những thuốc kể trên đều là thuốc điều trị xuất tinh sớm không chính thức (off-label). Thuốc uống đầu tiên được chính thức công nhận là thuốc điều trị xuất tinh sớm nguyên phát theo nhu cầu, cho nam giới từ 18-64 tuổi là dapoxetine, đã được hai nước Phần Lan và Thụy Điển cho phép lưu hành từ ngày 10/02/2009. Tuy nhiên, hiện tại, nhiều quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, vẫn chưa cho phép lưu hành thuốc này để trị xuất tinh sớm. Dapoxetine cũng là một thuốc thuộc nhóm SSRI, nhưng có thời gian tác dụng nhanh, nên chỉ cần uống trước khi quan hệ 1-3 giờ, và thuốc cũng mau bị thải ra khỏi cơ thể.

    2.2. Chậm xuất tinh, không xuất tinh

    a. Định nghĩa:

    Không xuất tinh là sự không tiết tinh vào niệu đạo sau. Bất cứ thuốc hay thủ thuật nào làm hư hại sự cung cấp thần kinh giao cảm cho ống dẫn tinh và cổ bàng quang, thần kinh thân thể ly tâm tới sàn chậu hay thần kinh thân thể hướng tâm tới dương vật đều có thể gây không tiết tinh hay chậm xuất tinh. Chậm xuất tinh hay không xuất tinh gây ra sự bức bối, mệt mỏi cho bệnh nhân và cả bạn tình.

    b. Nguyên nhân

    Có thể là chấn thương tủy sống (trên T10), cắt hạch giao cảm (sympathectomy) chức năng có thể do bệnh thần kinh đái tháo đường, hay do phẫu thuật cắt đại tràng, trực tràng, phình động mạch chủ bụng và các bệnh lý mạch máu ngoại khoa khác, cắt tuyến tiền liệt mở và nạo hạch sau phúc mạc do ung thư tinh hoàn. Lo âu cũng là một yếu tố gây chậm xuất tinh hay không xuất tinh. Những người sử dụng các thuốc chống trầm cảm (như SSRI) cũng là nguyên nhân gây chậm xuất tinh hay không xuất tinh.

    c. Điều trị: cần quan tâm đến hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân để làm giảm lo âu.

    - Nếu bệnh nhân đang sử dụng SSRI thì cần ngưng thuốc này, chuyển sang nhóm chống trầm cảm khác ít gây ảnh hưởng trên sự xuất tinh và tình dục như trazodone.

    - Nếu bệnh nhân không đang sử dụng SSRI: Thuốc điều trị chậm xuất tinh hay không xuất tinh là những chất đồng vận α như phenylephrine. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công khá thấp (dưới 30%).

    2.3. Xuất tinh khô

    Xuất tinh khô (dry ejaculation) thường hay gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân do xuất tinh ngược dòng, suy tuyến sinh dục, tắc ống phóng tinh, bất sản túi tinh hai bên.

    2.4. Xuất tinh ngược dòng

    Xuất tinh ngược dòng là sự tống xuất của tinh dịch trong niệu đạo sau vào bàng quang, hoàn toàn hay một phần. Xuất tinh ngược dòng là do hư hỏng cơ chế đóng – mở cổ bàng quang, thường do phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt gây ra (phẫu thuật mổ hay nội soi). Bệnh nhân vẫn có cảm giác cực khoái, dù có giảm ít nhiều , một phần do tuổi cao.

    Xuất tinh ngược dòng phân biệt với không xuất tinh dựa trên sự hiện diện của tinh trùng trong nước tiểu sau khi thủ dâm.

    Điều trị xuất tinh ngược dòng bằng các chất giống giao cảm (sympathomimetic agents) có thể có hiệu quả như pseudoephedrine (120 mg, 2-2,5 giờ trước khi giao hợp), ephedrine, phenylpropanolamine. Các chất này kích thích sự phóng xuất norepinephrine (noradrenaline) từ các tận cùng thần kinh và cũng có thể kích thích trực tiếp trên cả các thụ thể α và β adrenergic. Imipramine, ức chế sự tái hấp thu của norepinephrine cũng có thể có hiệu quả (25mg, hai lần mỗi ngày).

    3. Giảm ham muốn tình dục ở nam giới

    3.1. Định nghĩa:

    Theo Hội Tâm Thần Học Hoa Kỳ (DSM-IV), giảm ham muốn tình dục là tình trạng giảm hay không có ham muốn sinh hoạt tình dục và mộng tưởng tình dục, cần được phân biệt với rối loạn tình dục do bệnh lý toàn thân (do rối loạn nội tiết như tăng tiết prolactine, suy giảm testosterone hay các bệnh lý khác như suy thận mãn, suy gan...).

    3.2. Nguyên nhân:

    Khoảng 15% nam giới bị giảm ham muốn tình dục. Theo Corona (Corona et al. Int J imp Res ,2004,16: 275-281), 42,9% bệnh nhân trầm cảm giảm ham muốn tình dục.

    3.3. Điều trị:

    Theo Hoschi (Hoschi C et al. WPA Bulletin on depression, 2004, 9 (28):11-14), điều trị giảm ham muốn tình dục ở các trường hợp lo âu-trầm cảm có thể bằng những biện pháp sau đây:

    1) Chờ hồi phục tự nhiên (10-19%)
    2) Giảm liều hay đổi thuốc (sử dụng trazodone)
    3) Dùng thuốc chống trầm cảm sau quan hệ tình dục
    4) Dùng thuốc chống trầm cảm ít gây RLC (ví dụ tianeptine)
    5) Ngưng thuốc ngày cuối tuần
    6) Dùng thêm thuốc hỗ trợ cương PDE5i.
    7) Liệu pháp tâm lý

    Cần chú ý đến liệu pháp tâm lý và có thể hy vọng đến sự hồi phục tự nhiên, hoặc sử dụng thêm các thuốc hỗ trợ cương PDE5i (một khi chức năng cương cải thiện, tình trạng giảm ham muốn tình dục của bệnh nhân có thể được cải thiện). Nếu bệnh nhân có dùng các thuốc chống trầm cảm, thì các biện pháp số 2), 3), 4), 5) và 6) của Hoschi cần được chú ý.

    4. Mãn dục nam

    Testosterone là một nội tiết tố quan trọng cho đàn ông khoẻ mạnh về cơ thể và tâm thần. Theo nhiều nghiên cứu, testosterone, đặc biệt là thành phần testosterone tự do, thành phần có hoạt tính sinh học, bị giảm theo tuổi. Có người bị giảm testosterone rõ, có người giảm ít, có người không giảm. Đây là một hiện tượng tương đương với mãn kinh phụ nữ, nhưng sự giảm testosterone ở nam giảm từ từ hơn và không tuyệt đối như sự giảm sản xuất estrogen ở phụ nữ mãn kinh. Các triệu chứng của người đàn ông lớn tuổi bị giảm testosterone cũng giống như ở phụ nữ mãn kinh: mất ham muốn tình dục, mất khả năng cương, mất sức mạnh tinh thần, giảm khối cơ, tăng lượng mỡ và nếu giảm testosterone kéo dài, còn có đau xương và loãng xương. Các triệu chứng này gộp chung thành một hội chứng, gọi là hội chứng Suy Tuyến Sinh Dục Khởi Phát Muộn (late-onset hypogonadism), hay để dễ hình dung, nó thường được gọi là Mãn Kinh Nam hay Mãn Dục Nam (Male menopause, andropause).

    Cân nhắc khả năng liệu pháp bổ sung testosterone có thể cải thiện các triệu chứng của Mãn Dục Nam có lẽ là điều hợp lý.
    Dạng thuốc uống dễ được chấp nhận bởi đa số bệnh nhân, nhưng testosterone nhanh chóng bị bất hoạt bởi gan. Nhiều cố gắng được thực hiện nhằm biến đổi phân tử testosterone để tránh bị bất hoạt bởi gan, ví dụ mesterolone và 17a-methyl testosterone. Dạng thuốc sau có độc tính với gan, không nên dùng. Mesterolone, không thơm hoá được nên không có đủ các hiệu quả của testosterone. Một dạng androgen uống được lưu hành trong những năm 1970 là testosterone undecanoate. Đây là testosterone este hoá tan trong dầu, được hấp thu từ ruột qua hệ bạch mạch nên vượt qua được cửa ngõ bất hoạt ở gan. Thuốc này có thể dùng cho đàn ông lớn tuổi vì có thể thay đổi liều tùy theo mức độ suy giảm testosterone, bảo đảm sự sản xuất testosterone còn lại được toàn vẹn. Tuy nhiên, các viên dầu này phải được uống trong bữa ăn, và do sự hấp thụ của thuốc này không thể dự đoán được, kết quả là có sự xuất hiện các đỉnh testosterone huyết thanh tồn tại chỉ trong một thời gian ngắn sau khi ăn.

    Trong những năm gần đây, dạng testosterone ngấm qua da đã có mặt trên thị trường, được dán trên da bìu hay da nơi khác của cơ thể. Đứng về mặt nội tiết, dạng thuốc này đáp ứng được hầu hết các tiêu chuẩn của liệu pháp bổ sung testosterone. Tuy nhiên, miếng dán là một dấu hiệu cho thấy rõ ràng bệnh nhân bị giảm androgen mà điều này có thể làm bệnh nhân không thích, và thuốc dán có thể gây kích thích da hay dễ bị rớt.

    Dạng thuốc tiêm hay được sử dụng tại Việt Nam hiện nay là testosterone este hoá dưới dạng thuốc tiêm mỗi 2-4 tuần. Nồng độ testosterone huyết tương sau khi tiêm cho thấy một đỉnh cao không sinh lý vào ngày thứ ba, thứ tư; tiếp theo, nồng độ testosterone giảm nhanh chóng tới giá trị nhược tuyến sinh dục trong 8-14 ngày tiếp theo.

    Bổ sung mới nhất cho bộ các chế phẩm testosterone cho bệnh nhân là testosterone undecanoate trong dầu thầu dầu dạng tiêm bắp. Thuốc này cần được tiêm với liều 1000mg duy nhất trong 12 (10-14) tuần, sau khi tiêm liều đầu tiên được 6 tuần. Nồng độ testosterone trong huyết thanh duy trì trong giới hạn bình thường. Điều chỉnh khoảng cách tiêm có thể được thực hiện tùy thuộc vào nồng độ testosterone huyết thanh được xác định từ mẫu huyết thanh lấy ngay trước khi tiêm liều kế tiếp.

    5. Rối loạn tình dục nữ

    5.1. Định nghĩa:

    43% phụ nữ có rối loạn tình dục so với nam giới là 31% (Laumann, JAMA, 1999). Rối loạn tình dục nữ là các rối loạn kéo dài hay lặp đi lặp lại về ham muốn tình dục, kích thích, cực khoái, giao hợp đau và khó khăn trong việc khởi đầu hay hoàn tất giao hợp (Basson R, J Sex Med, 2004). Các rối loạn này gây ảnh hưởng đến tâm lý và quan hệ với bạn tình.

    Có rất ít nghiên cứu đã công bố về rối loạn tình dục ở phụ nữ. Ngoài ra, các bác sĩ rất hiếm khi hỏi phụ nữ về rối loạn tình dục, do đó rối loạn tình dục nữ có vẻ như không được chẩn đoán và điều trị đầy đủ.

    5.2. Nguyên nhân:

    Rối loạn tình dục nữ có thể do yếu tố tâm lý hoặc thực thể, hoặc là kết hợp cả hai. Các yếu tố thực thể cần lưu ý là viêm nhiễm âm đạo, âm hộ, phần phụ, mãn kinh, sẹo cắt tầng sinh môn…

    5.3. Chẩn đoán

    Dựa trên bản FSFI: www.fsfi-questionnaire.com, bao gồm 19 câu hỏi, điểm từ 2,0 đến 36,0:
    - Ham muốn: câu 1-2
    - Kích thích: câu 3-6
    - Tiết dịch âm đạo: câu 7-10
    - Cực khoái: câu 11-13
    - Thỏa mãn: câu 14-16
    - Giao hợp đau: câu 17-19

    5.4. Điều trị:

    Rối loạn tình dục nữ phức tạp hơn ở nam giới. Dù vậy, nếu mở rộng điều trị thì vẫn có nhiều bệnh nhân nữ nhận được sự cải thiện trong đời sống tình dục. Ở phụ nữ cần chú ý áp dụng những biện pháp không dùng thuốc:
    - Trao đổi cởi mở và chân thành
    - Thay đổi lối sống: bỏ hút thuốc, rượu…
    - Tham vấn với chuyên gia

    Điều trị những nguyên nhân có thể chữa được: Nguyên nhân nội (viêm) hay ngoại khoa rõ ràng thường có hiệu quả tốt.
    Một số thuốc có thể cải thiện tình trạng rối lọan tình dục nhưng không có thuốc nào an toàn và hiệu quả tuyệt đối:
    - Buprobion (Buspirone® 10mg) có thể có tác dụng trên giảm ham muốn tình dục do thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI. Buprobion gây nhức đầu, mất ngủ…
    - PDE5i như sildenafil có thể giúp giảm tình trạng khô âm đạo khi giao hợp, giao hợp đau và mất cực khoái.
    - Các hormone như testosterone (điều trị giảm ham muốn), estradiol (điều trị khô âm đạo) …vẫn chưa được công nhận chính thức.
    - Dầu Zestra bôi âm hộ có thể giảm đau, tăng khoái cảm.
    - Chất bôi trơn tan trong nước như K-Y Jelly® có thể dùng hỗ trợ trong chứng khô âm đạo.

    (Nguồn: Thuốc t�y y trong rối loạn t�nh dục nam- nữ)

  2. The Following User Says Thank You to thanhtam For This Useful Post:

    quocdat09 (25-06-13)

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. Bệnh nhân: 2
    Last Post: 22-06-15, 15:16
  2. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 04-08-13, 18:10
  3. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 10-05-13, 22:43
  4. Bệnh nhân: 7
    Last Post: 19-11-12, 17:35

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •