Results 1 to 5 of 5

Thread: Kiểm soát nhiễm khuẩn dựa theo bằng chứng trong khoa Hồi sức Cấp cứu

  1. #1
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default Kiểm soát nhiễm khuẩn dựa theo bằng chứng trong khoa Hồi sức Cấp cứu

    KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN DỰA THEO BẰNG CHỨNG TRONG HỒI SỨC CẤP CỨU

    ThS. Bs. Lương Quốc Chính
    Khoa Cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai

    MỞ ĐẦU


    Tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện trong khoa hồi sức cấp cứu cao hơn trong môi trường bệnh viện nói chung.

    Môi trường đặc thù của khoa hồi sức cấp cứu càng khuyến kích sự xuất hiện các nhiễm khuẩn do các vi sinh vật gây bệnh có khả năng đa kháng.

    Ngoài ra, đặc tính khẩn cấp của các can thiệp trong hồi sức cấp cứu có thể dẫn tới việc thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn không được tối ưu. Điều này làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong và làm tăng áp lực giường bênh.

    Ba mục tiêu lâm sàng chính của kiểm soát nhiễm khuẩn trong khoa hồi sức cấp cứu là: (1) giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn cao, (2) duy trì tỷ lệ nhiễm khuẩn thấp, và (3) kiểm soát kháng kháng sinh. Nhiễm khuẩn bệnh viện, do vi sinh vật mắc phải trong khoa hồi sức cấp cứu, chủ yếu lan truyền qua tay người chăm sóc. Vì lẽ đó, mục tiêu của kiểm soát nhiễm khuẩn là kiểm soát sự lan truyền vi sinh vật đa kháng do tình trạng thiếu vệ sinh.

    Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn đề cập trong bài là những tiêu chuẩn vệ sinh cơ bản bao gồm vệ sinh bàn tay, cách ly bệnh nhân, sử dụng găng tay và áo choàng thích hợp, bảo dưỡng trang thiết bị, và các tiêu chuẩn trong sạch môi trường.

    Mặc dù đã có một số các nghiên cứu nêu lên được các lợi ích của các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn, nhưng nói chung việc thực hiện đúng một vài hoặc tất cả các biện pháp trong thực hành lâm sàng vẫn chưa được tối ưu và thường rất ít hoặc không dựa vào bằng chứng.

    TẠI SAO CHÚNG TA CẦN THỰC HÀNH DỰA VÀO BẰNG CHỨNG TRONG KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU?

    Thực hành dựa vào bằng chứng (Evidence-Based Practice) được định nghĩa là “sự thống nhất những bằng chứng nghiên cứu tốt nhất với các ý kiến của giới chuyên môn về mặt lâm sàng và các tiêu chuẩn bệnh nhân”.

    Thực hành dựa vào bằng chứng hiện được công nhận như là một phương pháp giúp cho việc chăm sóc sức khỏe có hiệu quả hơn bằng cách đặt câu hỏi về những vấn đề cơ bản của các biện pháp can thiệp, phân tích những nghiên cứu lâm sàng ban đầu sẵn có nhằm chứng minh các vấn đề thực hành hiện tại và xây dựng các hướng dẫn lâm sàng dựa trên các ý kiến chuyên môn.

    Ủy ban Dịch vụ Y tế (HSE) Quốc gia Vương Quốc Anh đã công bố rằng tất cả các hướng dẫn lâm sàng nên được phân loại theo các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, các nghiên cứu quan sát hoặc thử nghiệm thô, hoặc thêm một số ít các bằng chứng mà chúng thường dựa vào ý kiến chuyên môn và được tán thành bởi các tác giả có uy tín.

    Tương tự, Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật (CDC) Hoa Kỳ cũng có các hướng dẫn lâm sàng trong kiểm soát nhiễm khuẩn dựa vào bằng chứng như sau:
    - Loại IA: Khuyến cáo thực hiện một cách mạnh mẽ và được ủng hộ bởi các nghiên cứu thực nghiệm, lâm sàng, hoặc dịch tễ được thiết kế tốt.
    - Loại IB: Khuyến cáo thực hiện một cách mạnh mẽ và được ủng hộ bởi các nghiên cứu thực nghiệm, lâm sàng, hoặc dịch tễ chặt chẽ và có cơ sở lý thuyết chắc chắn.
    - Loại II: Gợi ý thực hiện và được ủng hộ bởi các nghiên cứu lâm sàng hoặc dịch tễ gợi ý hoặc có một cơ sở lý thuyết.
    - Không khuyến cáo: Vấn đề chưa được giải quyết. Tiến hành theo thói quen khi chưa đủ bằng chứng hoặc không có sự đồng thuận về hiệu quả.

    Sự phân loại này được sử dụng trong bảng 1 và 2

    Bảng 1: Khuyến cáo vệ sinh bàn tay (với nhân viên y tế)
    Khuyến cáo Mức độ bằng chứng
    Khi hai bàn tay bẩn rõ hoặc dính bẩn các chất chứa protein hoặc vấy bẩn máu và/hoặc các dịch cơ thể khác rõ thì rửa tay bằng hoặc xà phòng không kháng khuẩn với nước hoặc xà phòng kháng khuẩn với nước. IA
    Nếu hai bàn tay không vấy bẩn rõ thì dung chất chà sát tay dạng cồn một cách thường quy để làm sạch hai bàn tay trong tất cả các tình huống lâm sàng khác được mô tả trong bài. II
    Làm sạch hai bàn tay sau khi tiếp xúc với da lành của bệnh nhân (ví dụ: khi bắt mạch, đo huyết áp, hoặc nâng bệnh nhân). IB
    Làm sạch hai bàn tay sau khi tiếp xúc với dịch hoặc chất tiết của cơ thể, niêm mạc, vùng da không lành, và băng vết thương nếu hai bàn tay bị vấy bẩn không rõ. IA
    Làm sạch hai bàn tay sau khi tháo bỏ găng tay IB
    Trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, rửa tay bằng xà phòng không kháng khuẩn với nước hoặc bằng xà phòng kháng khuẩn với nước. IB
    Không có khuyến cáo nào cho việc sử dụng thường thường quy chất chà sát bàn tay không phải dạng cồn trong môi trường chăm sóc y tế. Vấn đề chưa được giải quyết
    Khi làm sạch hai bàn tay bằng chất chà sát bàn tay dạng cồn thì để chất chà sát vào long của một bàn tay và chà sát hai bàn tay với nhau, phủ kín toàn bộ bề mặt hai bàn tay và các ngón tay, cho tới khi hai bàn tay khô. IB
    Khi rửa hai bàn tay với xà phòng và nước, đầu tiên phải làm ướt hai bàn tay bằng nước, để một lượng xà phòng theo khuyến cáo của nhà sản xuất vào hai bàn tay và chà sát mạnh hai bàn tay với nhau trong tối thiểu 15 giây, phủ kín toàn bộ bề mặt hai bàn tay và các ngón tay. Dội rửa hai bàn tay bằng nước và lau khô bằng khăn dung một lần. Dùng khăn để khóa vòi nước. IB
    Cung cấp cho nhân viên những sản phẩm vệ sinh bàn tay có hiệu quả với sự kích thích thấp, đặc biệt khi các sản phẩm này được sử dụng nhiều lần trong mỗi ca làm việc.
    Khuyến cáo này áp dụng cho các sản phẩm được sử dụng với mục đích khử trùng bàn tay trước và sau khi chăm sóc bệnh nhân trong khu vực lâm sàng và áp dụng cho các sản phẩm được sử dụng với mục đích khử trùng bàn tay trong phẫu thuật bởi các phẫu thuật viên.
    IB
    Không cho thêm xà phòng vào hộp xà phòng gần hết vì các thao tác ở phần trên hộp xà phòng có thể gây nhiễm bẩn vi khuẩn xà phòng. IA
    Cung cấp cho nhân viên y tế các dung dịch lỏng hoặc kem có tác dụng hạn chế tối thiểu viêm da tiếp xúc do các chất rửa và khử trùng bàn tay. IA
    Là bộ phận trong một chương trình đa ngành nhằm cải thiện sự tuân thủ vệ sinh bàn tay, cung cấp cho nhân viên y tế một sản phẩm chà sát bàn tay dạng cồn có thể dung được. IA
    Nhằm cải thiện sự tuân thủ vệ sinh bàn tay trong số nhân viên làm việc tại những nơi có khối lượng công việc nhiều và cường độ chăm sóc bệnh nhân cao đã được dự liệu trước, đảm bảo chất chà sát bàn tay dạng cồn luôn sẵn có tại lối vào phòng bệnh nhân hoặc cạnh giường, ở các vị trí thuận tiện khác, và trong hộp đựng nhỏ bỏ túi cá nhân được mang bởi nhân viên y tế. IA

    Bảng 2: Khuyến cáo trang phục bảo vệ và giữ gìn thiết bị và môi trường

    Khuyến cáo Mức độ bằng chứng
    Lựa chọn thiết bị bảo vệ dựa trên cơ sở đánh giá nguy cơ lây truyền vi sinh vật II
    Găng tay
    Đeo găng tay (găng sạch, không vô trùng là được) khi chạm vào máu, dịch cơ thể, chất tiết, chất thải, và những vật nhiễm bẩn. Đeo găng tay sạch ngay trước khi chạm vào niêm mạc và da không lành lặn. Đổi găng tay giữa các phần việc và các thủ thuật trên cùng một bệnh nhân sau mỗi lần tiếp xúc với vật chất mà nó có thể có một nồng độ cao vi sinh vật. Tháo bỏ găng tay ngay sau khi sử dụng, trước khi chạm vào những chỗ và bề mặt môi trường không nhiễm bẩn, và trước khi tiếp tục công việc trên các bệnh nhân khác, và rửa bàn tay ngay lập tức để tránh truyền vi sinh vật tới những bệnh nhân và môi trường khác.
    IB
    Mặt nạ và bảo vệ mắt
    Đeo mặt nạ hoặc tấm chắn mặt để bảo vệ niêm mạc mắt, mũi và miệng trong khi làm thủ thuật và chăm sóc bệnh nhân mà có nguy cơ dính bẩn bởi máu, dịch cơ thể, chất tiết, và chất thải của bệnh nhân.
    IB
    Áo choàng
    Mặc áo choàng (áo choàng sạch, không vô trùng là được) để bảo vệ da và dự phòng vấy bẩn quần áo trong khi làm thủ thuật và chăm sóc bệnh nhân mà có nguy cơ dính bẩn bởi máu, dịch cơ thể, chất tiết, và chất thải của bệnh nhân. Lựa chọn loại áo choàng phù hợp cho vận động và lượng dịch có khả năng dính bẩn vào. Cởi áo choàng dính bẩn ngay khi có thể và rửa tay để tránh truyền vi sinh vật tới những bệnh nhân và môi trường khác.
    IB
    Cách ly
    Để bệnh nhân có nguy cơ làm nhiễm bẩn cho môi trường hoặc không (hoặc không thể mong đợi) cộng tác trong việc duy trì tình trạng vệ sinh hoặc kiểm soát môi trường một cách thích hợp ở trong một phòng riêng. Nếu không có phòng riêng, tham khảo ý kiến các chuyên gia chống nhiễm khuẩn về vị trí để bệnh nhân hoặc các sự thay thế khác.
    IB
    Thiết bị chăm sóc bệnh nhân
    Cầm nắm thiết bị đã sử dụng bị dính máu, dịch cơ thể, dịch tiết, và chất thải theo cách sao cho tránh được được sự vấy bẩn vào da và niêm mạc, nhiễm bẩn quần áo, và truyền vi sinh vật sang những môi trường và bệnh nhân khác. Đảm bảo rằng những thiết bị có thể dung lại được không được sử dụng cho việc chăm sóc bệnh nhân khác cho tới khi chúng được rửa sạch và sử lý lại một cách thích hợp. Đảm bảo rằng những dụng cụ chỉ dùng một lần phải được vứt bỏ ngay sau khi sử dụng.
    IB
    Kiểm soát môi trường
    Đảm bảo rằng bệnh viện có những quy trình thích hợp cho việc giữ gìn, dọn dẹp, tẩy uế bề mặt môi trường, giường bệnh, thành giường, thiết bị cạnh giường, và các bề mặt đụng chạm thường xuyên khác một cách thường quy, và đảm bảo rằng các quy trình này luôn được giám sát.
    IB
    Sờ mó, vận chuyển, xử lý đồ vải đã sử dụng bị vấy bẩn máu, dịch cơ thể, dịch tiết, và chất thải theo cách sao cho tránh được được sự vấy bẩn vào da và niêm mạc, nhiễm bẩn quần áo, và tránh được sự lây truyền vi sinh vật sang những môi trường và bệnh nhân khác. IB

    NĂM BIỆN PHÁP KIỂM SOÁT NHIỄM KHUẨN CHÍNH ĐỂ CHỐNG SỰ LÂY TRUYỀN


    VỆ SINH BÀN TAY

    Rửa tay được cho là một trong những biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế (bảng 1). Một vài nghiên cứu cho thấy rằng sự lây truyền vi sinh vật gây bệnh từ một bệnh nhân sang các bệnh nhân khác qua bàn tay của nhân viên y tế gây ảnh hưởng bất lợi tới kết quả điều trị. Những hướng dẫn thực hành theo bằng chứng trong kiểm soát nhiễm khuẩn, căn cứ vào việc điểm lại một cách hệ thống các tài liệu sẵn có mà nó đề cập tới việc làm sạch bàn tay một cách có hiệu quả, có thể làm giảm có ý nghĩa tỷ lệ nhiễm khuẩn trong những khu vực nguy cơ cao như khoa hồi sức cấp cứu. Vì vậy, hai bàn tay phải được làm sạch và khô triệt để ngay trước khi mỗi lần tiếp xúc/chăm sóc trực tiếp bệnh nhân và sau bất cứ động tác nào hoặc sự tiếp xúc nào mà có thể làm hai bàn tay bị nhiễm bẩn.

    Có nhiều nghiên cứu chú ý tới việc phân biệt các sản phẩm làm sạch bàn tay. Một vài nghiên cứu đã cho rằng xà phòng và nước có hiệu quả tương tự như các sản phẩm rửa tay chứa đựng chất kháng khuẩn trong việc làm sạch bàn tay và loại bỏ các vi sinh vật lưu trú. Tuy nhiên, một thử nghiệm lâm sàng tiến cứu ngẫu nhiên gần đây với thiết kế cắt ngang, số liệu cặp, và đánh giá mù tại một khoa hồi sức cấp cứu ở Tây Ban Nha đã chứng minh rằng dung dịch cồn đơn thuần có hiệu quả trong việc làm giảm số lượng các đơn vị định hình cụm khuẩn (CFU) tới 88,2% trên bàn tay sau khi rửa tay so với 49,6% sau khi rửa tay bằng xà phòng và nước.

    Việc làm sạch bàn tay thường được thực hiện kém và một vài nghiên cứu đã cho thấy rằng sự tuân thủ ở dưới mức tối ưu. Có nhiều lý do khác nhau cho vấn đề này bao gồm sự sẵn có các điều kiện thuận lợi để làm sạch bàn tay và các sản phẩm rửa tay có tính kích ứng gây tổn thương da. Vì vậy các khoa hồi sức cấp cứu phải có đủ bồn rửa thuận tiện để rửa tay. Tăng số lượng sẵn có các hộp dung dịch gien chà sát bàn tay dạng cồn có chứa chất làm dịu để có thể lảm tăng tỷ lệ tuân thủ. Mở các khóa đào tạo vệ sinh bàn tay/kiểm tra sự tuân thủ một cách thường xuyên có thể giúp làm tăng sự nhận thức.

    Tuy nhiên cũng cần phải thông cảm rằng nước dãi hoặc phân của bệnh nhân nặng chứa đựng một nồng độ cao các vi sinh vật gây bệnh (> 108 CFU/g phân) và sau khi tiếp xúc với một bệnh nhân như vậy thì sự nhiễm bẩn bàn tay thường vượt quá 105 CFU/cm2 bề mặt ngón tay trong khi đó bàn tay nhiễm bẩn chỉ có thể được làm sạch vi sinh vật gây bệnh một cách có hiệu quả bằng chlorhexidine 0,5% trong cồn 70% khi bàn tay đó bị nhiễm bẩn < 104 CFU/cm2 bề mặt. Do vậy sự nhiễm bẩn bàn tay chỉ có thể mong đợi làm giảm được sự lây truyền chứ không làm sạch được hoàn toàn.

    GĂNG TAY, ÁO CHOÀNG VÀ TẠP DỀ (TRANG BỊ BẢO HỘ CÁ NHÂN)

    Nhiễm khuẩn do chăm sóc y tế có thể dễ dàng lây lan giữa các bệnh nhân do sự lây truyền trực tiếp qua bàn tay của nhân viên y tế hoặc qua các vật thể vô tri khác như thiết bị y tế. Các vi sinh vật có khả năng gây bệnh phổ biến nhất là cầu khuẩn ruột kháng vancomycin (VRE), tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA), Clostridium difficile, và các trực khuẩn Gram âm kỵ khí (AGNB). Thường không thể biết trước được giai đoạn mang mầm bệnh của bệnh nhân khi vào khoa Hồi sức Cấp cứu nên vấn đề bắt buộc là nhân viên y tế phải có sẵn các dự phòng chuẩn mực. Dụng cụ bảo hộ cá nhân phải dễ dàng sử dụng đối với tất cả nhân viên y tế trong khoa hồi sức cấp cứu để đảm bảo việc tuân thủ các dự phòng chuẩn mực đó. Găng tay và tạp dề nên được sử dụng một cách thường quy khi cầm hay đụng chạm vào máu và/hoặc các dịch cơ thể từ tất cả các bệnh nhân để bảo vệ nhân viên y tế và dự phòng lây truyền cho các cá thể dễ nhiễm khác.

    Găng tay nhựa là một trong những trang bị bảo hộ hiệu quả nhất chống lại vi sinh vật mặc dù một vài nghiên cứu đã cho thấy có sự tuân thủ kém, găng tay không phải luôn được đeo khi cần, hoặc ngược lại găng tay được đeo trong khoảng thời gian kéo dài và bàn tay không được rửa sau khi tháo găng, đã làm cho bàn tay bị nhiễm bẩn. Găng tay còn có thể gây ra những phản ứng bất lợi và kích ứng da cho cả nhân viên chăm sóc sức khỏe và bệnh nhân. Cần xây dựng được quy trình đánh giá nguy cơ khi sử dụng găng tay và sử dụng găng tay cho mục đích đặc biệt.

    Găng tay vô khuẩn: phải được đeo cho tất cả các thủ thuật can thiệp, tiếp xúc với các vị trí vô khuẩn và vùng da tổn thương.

    Găng tay không vô khuẩn: phù hợp cho tất cả các thủ thuật liên quan tới sự tiếp xúc với niêm mạc mà ở đó việc đánh giá nguy cơ cho thấy có sự phơi nhiễm với máu hoặc dịch cơ thể, chất tiết và chất thải.

    Găng tay còn là trang bị bảo hộ dùng một lần và được vứt bỏ như chất thải lâm sàng sau mỗi lần sử dụng hoặc sau khi nhiễm bẩn bàn tay.

    Tạp dề nhựa dùng một lần chỉ có hiệu quả như áo choàng trong việc bảo vệ quần áo của nhân viên y tế. Có nhiều nghiên cứu ủng hộ việc sử dụng áo choàng để dự phòng lây nhiễm các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là Clostridium difficile và cầu khuẩn ruột kháng vancomycin (VRE). Tuy nhiên, việc điểm lại các nghiên cứu có sẵn một cách hệ thống đã xác định được hai thử nghiệm kiểm chứng ngẫu nhiên mà ở đó cách sử dụng áo choàng trong các đơn vị chăm sóc sơ sinh đặc biệt đã không làm giảm được tỷ lệ nhiễm trùng do vẫn có sự nhiễm bẩn máu và dịch cơ thể vào quần áo nhân viên y tế, do đó cần khuyến cáo rằng tạp dề nhựa sử dụng một lần nên được sử dụng. Áo choàng chỉ cần thiết ở những nơi có nguy cơ nhiễm bẩn hoặc vấy bẩn như ở bệnh nhân bỏng rộng, chấn thương nặng và trong những trường hợp này thậm chí áo choàng nên được làm từ vật liệu không thấm nước.

    Trong khoa hồi sức hoặc khoa cấp cứu, nhân viên y tế nên có các trang bị bảo vệ mặt và mắt. Mặc dù mặt nạ mặt không cho thấy được những lợi ích rõ rệt, tuy nhiên việc bảo vệ đường hô hấp là cần thiết nhất là khi tiếp xúc với bệnh nhân có bệnh phổi lây nhiêm như lao phổi…Mặt nạ nên được thiết kế chuyên dụng cho việc bảo vệ đường hô hấp như mặt nạ RP4. Sự vấy bẩn máu và dịch cơ thể vào mặt hoặc mắt nhân viên y tế trong khoa hồi sức cấp cứu đã được thông báo, đặc biệt là khi hút đờm qua ống nội khí quản. Dụng cụ bảo vệ mắt chuyên biệt và tấm che mặt nên được sử dụng nếu việc đánh giá nguy cơ cho thấy rằng sự vấy bẩn có thể xẩy ra. Nếu có phơi nhiễm với máu hoặc dịch cơ thể, nhân viên y tế phải thông báo điều này như là một tai nạn lây nhiễm và phải được điều trị thích hợp.

    CÁCH LY

    Một vài nghiên cứu đã chứng minh rằng việc dự phòng bằng hàng rào cách ly có hiệu quả làm giảm sự lây truyền, đặc biệt là các lây truyền liên quan tới cầu khuẩn ruột kháng vancomycin, Clostridium difficile, và virus hợp bào hô hấp (RSV) và giảm sự lây truyền trong một vài vụ dịch do tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) và trực khuẩn Gram âm kỵ khí (AGNB).

    Tuy nhiên cũng rất khó để cách ly bệnh nhân vì không phải lúc nào cũng có sẵn phòng cách ly và ngày càng có nhiều bệnh nhân nhiễm vi sinh vật gây bệnh kháng kháng sinh cần được cách ly. Trong trường hợp này việc đánh giá nguy cơ cần được tiến hành để xác định cách thức và khả năng lây truyền vi sinh vật gây bệnh cho các bệnh nhân khác trong khoa hồi sức cấp cứu. Sau đó bệnh nhân có thể được cách ly trên cơ sở nguy cơ lớn nhất hoặc những bệnh nhân có cùng mầm bệnh vi sinh vật có thể được chăm sóc cùng nhau.

    Dự phòng bằng hàng rào cách ly nên được thực hiện khi có bệnh nhân trong khoa hồi sức cấp cứu nghi ngờ có vi sinh vật gây bệnh kháng kháng sinh. Hơn nữa, việc sự phòng này cần được thực hiện ngay khi có nghi ngờ mà không đợi sự xác nhận bằng vi khuẩn học. Tuy nhiên, sự dự phòng phải được đơn giản trong việc theo dõi và thực hiện để đảm bảo sự tuân thủ.

    VAI TRÒ CỦA THIẾT BỊ CHĂM SÓC BỆNH NHÂN

    Thiết bị chăm sóc bệnh nhân cũng có thể góp phần vào sự xuất hiện một vài vụ dịch nhiễm trùng ở bệnh nhân trong khoa hồi sức cấp cứu, đặc biệt ở những nơi mà có sự di chuyển thiết bị giữa các bệnh nhân. Tuy nhiên tất cả các thiết bị được sử dụng cho bệnh nhân nằm trong khoa hồi sức cấp cứu có thể được chia thành nhóm nguy cơ cao, trung bình, thấp tối thiểu

    Nhóm nguy cơ cao: bao gồm bất cứ thiết bị nào mà được dùng để can thiệp (cắt, chọc…) vào da hoặc niêm mạc hoặc được đưa vào vùng cơ thể vô khuẩn như dụng cụ phẫu thuật, các ống thông và dịch truyền…Các thiết bị này phải vô khuẩn và có thể tiệt trùng (sterilization) được.

    Nhóm nguy cơ trung bình: bao gồm những thiết bị mà được sử dụng tiếp xúc với niêm mạc lành, dịch cơ thể hoặc những thiết bị bị nhiễm bẩn vi sinh vật gây bệnh hoặc những thiết bị được sử dụng cho những vị trí hoặc bệnh nhân có nguy cơ bị lây nhiễm cao như các ống nội soi, thiết bị hô hấp. Những thiết bị này cần được diệt khuẩn (disinfection).
    Nhóm nguy cơ thấp: bao gồm những thiết bị mà được sử dụng tiếp xúc với da lành hoặc bình thường như nhiệt kế, ống nghe, bồn rửa, nhà vệ sinh và giường bệnh. Việc lau sạch và làm khô thường là đủ, nhưng cũng cần diệt khuẩn (disinfection) trong các trường hợp bệnh nhân có nguy cơ nhiễm trùng rõ như nhiễm tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA).

    Nhóm nguy cơ tối thiểu: bao gồm các thiết bị không tiếp xúc với bệnh nhân như sàn nhà hoặc các loại bề mặt. Thường chỉ cần lau sạch và làm khô là đủ ngoại trừ trong các vụ dịch.

    Các thiết bị trong khoa hồi sức cấp cứu được sử dụng cho các bệnh nhân nặng nhất và dễ nhiễm bệnh nhất. Vì vậy, thiết bị sử dụng trong các thủ thuật can thiệp phải được tiệt trùng một cách phù hợp sau mỗi bệnh nhân dù có nhiễm khuẩn hay không. Các thiết bị thăm khám bệnh nhân như ống nghe và nhiệt kế nên được dành riêng cho mỗi bệnh nhân vào bất cứ khi nào có thể. Với những thiết bị chuyên dụng không được sử dụng thường xuyên như máy chụp XQ và siêu âm di động, nhân viên y tế phải đảm bảo rằng chúng phải được lau sạch sau mỗi lần sử dụng.

    Tất cả các môi trường, ngoại trừ những môi trường được duy trì dưới điều kiện vô khuẩn, đều có thể chứa chấp vi sinh vật gây bệnh, khoa hồi sức cấp cứu không phải là ngoại lệ. Thiết bị thông khí, thiết bị giữ ẩm và thiết bị chuyển đổi…đều góp phần vào các vụ dịch lây truyền từ bên ngoài môi trường. Các vi sinh vật gây bệnh thường có liên quan bao gồm Acinetobacter sp.Pseudomonas aeruginosa và không aeruginosa (Stenotrophomonas maltophilia and Burkholderia cepacia), tụ cầu vàng kháng methicillin, cầu khuẩn ruột kháng vancomycin, và Clostridium difficile.

    VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN

    Môi trường sạch là điều kiện bắt buộc cho các tiêu chuẩn tốt về vệ sinh và vô khuẩn. Môi trường trong khoa hồi sức cấp cứu được xếp loại là vùng có nguy cơ cao theo Hướng dẫn về các tiêu chuẩn trong sạch môi trường bệnh viện (Standards for Environment Cleanliness in Hospitals Guidelines) của Hoa Kỳ. Khi xét đến vai trò của môi trường trong khoa hồi sức cấp cứu, bản thiết kế cần đảm bảo khoảng cách thích hợp giữa các giường bệnh để tạo thuận cho nhân viên y tế làm việc, đủ chỗ cho trang thiết bị cạnh giường, tránh được tình trạng tập trung quá đông người và có thể dễ dàng làm sạch được môi trường xung quanh. Đồ đạc và các trang bị cố định nên được giới hạn ở mức tối thiểu và được làm từ những vật liệu mà có thể dễ dàng lau sạch được.
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  2. #2
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    TỶ LỆ TUÂN THỦ RỬA TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
    THEO NĂM THỜI ĐIỂM CỦA TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI
    Đặng Thị Vân Trang*, Lê Thị Anh Thư*

    TÓM TẮT

    Mục tiêu: Lây truyền vi sinh vật thông qua bàn tay là con đường chính lây nhiễm chéo trong bệnh viện và có thể phòng ngừa bằng cách rửa tay. Tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ vẫn còn thấp trong nhân viên y tế. Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế theo năm thời điểm của Tổ chức y tế thế giới tại các khoa lâm sàng.

    Đối tượng và phương pháp: Nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác đang làm việc tại khoa nghiên cứu. Nghiên cứu quan sát mô tả. Xác định tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế trong tất cả cơ hội tiếp xúc với bệnh nhân mà bắt buộc phải rửa tay theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới.

    Kết quả: Trong số 3013 cơ hội rửa tay được quan sát (ĐD: 67,5%, BS: 24,6%, KTV: 3,1% và NVYT khác: 4,8%), tỷ lệ tuân thủ rửa tay trung bình là 25,7%. Theo năm thời điểm rửa tay của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ tuân thủ rửa tay lần lượt là 17,0% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 31,8% trước thao tác vô khuẩn, 56,7% sau tiếp xúc dịch, 29,2% sau tiếp xúc bệnh nhân và 12,3% sau sờ môi trường xung quanh bệnh nhân. Tỷ lệ tuân thủ rửa tay giữa các đối tượng khác biệt không có ý nghĩa, 26,6% ở bác sĩ, 26,3% ở điều dưỡng, 23,9% ở kỹ thuật viên và 22,9% ở các đối tượng khác. Tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở các khoa như sau: 36,1% ở các khoa hồi sức cấp cứu, 21,6% ở các khoa nội và 28,4% ở các khoa ngoại.

    Kết luận: Tỷ lệ tuân thủ rửa tay còn thấp ở các thời điểm trước khi tiếp xúc bệnh nhân và sau sờ môi trường xung quanh bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu gợi ý chương trình giáo dục về rửa tay cần chú ý đến những thời điểm thường bỏ sót, đồng thời nên tập trung vào từng khoa và từng đối tượng.
    Từ khóa: tỷ lệ tuân thủ rửa tay, năm thời điểm rửa tay, Tổ chức y tế thế giới.

    ABSTRACT

    COMPLIANCE WITH HAND HYGIENE ACCORDING TO WHO’s 5 MOMENTS FOR HAND HYGIENE AT CHO RAY HOSPITAL,
    Dang Thi Van Trang, Le Thi Anh Thu, Y Hoc TP. Ho Chi Minh, Vol. 14 - Supplement of No 2 - 2010: 436 - 439

    Background and Objective: Transmission of microorganisms from the hands of health care workers is the main source of cross-infection in hospitals and can be prevented by hand hygiene. However, the compliance with HH is still low. The purpose of this study is to identify the compliance with handwashing of healthcare workers in clinical departments accordings to 5 moments for hand hygiene of WHO.

    Subjects: Healthcare workers who are working in clinical wards include physicians, nurses, technician and others.

    Results: In 3013 observed opportunities (nurses: 67.5%, physicians: 24.6%, technicians: 3.1% and other health care workers: 4.8%) for handwashing, average compliance was 25.7%. Accordings to 5 moments for hand washing of WHO, the compliance was 17% before patient contact, 31.8% before aseptic procedures, 56.7% after blood or body fluid contact, 29.2% after patient contact and 12.3% after environment contact. The compliance among participants was non different 26.6% among phycians, 26.3% among nurses, 23.9% among technicians and 22.9% among others participants. The compliance was 36.1% in intensive care units, 21.6% in internal medicine units and 28.4% in surgical units.

    Conclusions: Compliance with handwashing was low at two moments: before patient contact and after environment contact. Results suggested that HH education should focus on the moments that usually missed and target to each hospital ward and type of health care workers.

    Key words: compliance of handwashing, 5 moments for hand hygiene, WHO.


    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Cùng với sự xuất hiện một số bệnh gây ra bởi những vi sinh vật kháng thuốc, hoặc bởi những tác nhân gây bệnh mới, NKBV vẫn còn là vấn đề nan giải ngay cả ở các nước tiên tiến, với tỷ lệ nhiễm khuẩn chung khá cao 7-10%. Thống kê cho thấy tỷ lệ NKBV vào khoảng 5-10% ở các nước đã phát triển và lên đến 15-20% ở các nước đang phát triển. 5-10% NKBV gây thành vụ dịch trong bệnh viện. NKBV kéo dài thời gian nằm viện trung bình từ 7 đến 15 ngày, làm gia tăng sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh (3).

    Hầu hết việc lây truyền bệnh là qua trung gian bàn tay. Do đó, một trong những khuyến cáo nhằm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện là thực hành rửa tay khi chăm sóc bệnh nhân(1). Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo năm thời điểm cần rửa tay: (1). Trước khi tiếp xúc bệnh nhân (2). Trước khi làm thao tác cần vô khuẩn (3). Sau khi tiếp xúc bệnh nhân (4). Sau khi có nguy cơ tiếp xúc với máu, dịch tiết bệnh nhân (5). Sau khi đụng chạm những đồ vật, bề mặt xung quanh bệnh nhân (2). Tuy nhiên tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế vẫn còn thấp, tỷ lệ tuân thủ thường nhỏ hơn 50% tất cả cơ hội cần phải rửa tay (4). Một khảo sát ngẫu nhiên tại Bệnh viện Chợ Rẫy 2007 cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tại khoa hồi sức cấp cứu rất thấp (12,5%). Nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai cũng cho kết quả tương tự (12,2%). Tỷ lệ rửa tay cao ở một số khoa đặc biệt như săn sóc đặc biệt, hồi sức sơ sinh, nhưng rất thấp ở các khoa lâm sàng, phòng khám(5).

    Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo sát này nhằm đánh giá lại tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng theo năm thời điểm của Tổ chức y tế thế giới.

    ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Đối tượng nghiên cứu

    Nhân viên y tế đang làm việc tại các khoa lâm sàng. Nhân viên y tế có thể là bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, khác (hộ lý, sinh viên…).

    Phương pháp nghiên cứu

    Nghiên cứu thực hiện bằng cách quan sát mô tả trực tiếp. Người thực hiện quan sát là nhân viên khoa kiểm soát nhiễm khuẩn và điều dưỡng trưởng đã được tập huấn về phương pháp nghiên cứu và không bị chi phối bởi các khoa lâm sàng. Dữ liệu được điền vào mẫu điều tra chuẩn.
    Thời gian quan sát: 20 phút trong một ca và quan sát cả ba ca trong ngày làm việc. Thời gian quan sát kéo dài cho đến khi thu được cỡ mẫu dự kiến.
    Xác định tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế trong tất cả cơ hội tiếp xúc với bệnh nhân mà bắt buộc phải rửa tay.

    Tỷ lệ tuân thủ rửa tay (%) = Số cơ hội có rửa tay x 100 / Số cơ hội cần phải rửa tay

    KẾT QUẢ

    Quan sát được thực hiện tại 21 khoa, bao gồm 12 khoa nội (Nội thần kinh, nội tiêu hoá, nội phổi, nội tim mạch, Nhiệt đới, Nội tiết, Nội thận và 4 khoa điều trị theo yêu cầu), 6 khoa ngoại (ngoại thần kinh, ngoại tiêu hoá, ngoại gan mật tuỵ, ngoại tiết niệu, ngoại chỉnh hình và Phỏng) và 2 khoa hồi sức cấp cứu (Hồi sức cấp cứu và hồi sức ngoại thần kinh).

    Quan sát 3013 cơ hội rửa tay, trong đó số cơ hội của điều dưỡng là 67,5%, của bác sĩ là 24,6%, của kỹ thuật viên là 3,1%, và các nhân viên khác là 4,8%. Tỉ lệ tuân thủ rửa tay trung bình là 25,7%, trong đó, 17,1% là rửa tay nhanh và 8,6% là rửa tay bằng xà bông và nước. Tỉ lệ mang găng cũ là 13,0%.

    Theo năm thời điểm rửa tay của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ tuân thủ rửa tay lần lượt là 17,0% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 31,8% trước thao tác vô khuẩn, 56,7% sau tiếp xúc dịch, 29,2% sau tiếp xúc bệnh nhân và 12,3% sau sờ môi trường xung quanh bệnh nhân.

    Tỷ lệ tuân thủ rửa tay giữa các đối tượng khác biệt không có ý nghĩa, 26, 6% ở bác sĩ, 26,3% ở điều dưỡng, 23,9% ở kỹ thuật viên và 22,9% ở các đối tượng khác.

    Tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở các khoa như sau: 36,1% ở các khoa hồi sức cấp cứu, 21,6% ở các khoa nội và 28,4% ở các khoa ngoại. Tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở từng khoa theo thứ tự từ cao đến thấp là 40,1% (115/287) ở nội tim mạch, 39,9% (343/860) ở hồi sức cấp cứu, 28,8% (75/226) ở ngoại tiêu hoá, 26,5% (78/294) ở nội phổi, 19,8% (98/494) ở ngoại thần kinh, 16,7% (7/42) ở nhiệt đới, 13,0% (18/139) ở hồi sức ngoại thần kinh, 10,9% (11/102) ở nội thần kinh, 10,5% (12/115) ở ngoại chỉnh hình, 5,9% (5/84) ở phỏng, 4,2% (3/71) ở nội tiết, 2,7% (1/37) ở nội thận và 1,5% (2/132) ở các khoa điều trị theo yêu cầu.

    Tỷ lệ tuân thủ rửa tay theo giờ làm việc như sau: 23,3% lúc 7 giờ, 31,2% lúc 8 giờ, 21,1% lúc 9 giờ, 23,8% lúc 10 giờ, 13,7% lúc 11 giờ, 18,6% lúc 13 giờ, 30,0% lúc 14 giờ, 43,3% lúc 15 giờ.

    BÀN LUẬN

    Tỷ lệ rửa tay chung của nhân viên y tế tại bệnh viện Chợ Rẫy không cao 25,7% so với các nghiên cứu khác ở các nước (5, 6). Ví dụ, khảo sát báo cáo của Pitter năm 2000 tại một bệnh viện ở Thuỵ Sĩ, quan sát 2834 cơ hội rửa tay, tỷ lệ tuân thủ rửa tay chung của nhân viên y tế là 48%.

    Tỷ lệ tuân thủ rửa tay còn thấp ở các thời điểm trước khi tiếp xúc bệnh nhân và sau sờ môi trường xung quanh bệnh nhân. Điều này cho thấy rằng nhân viên y tế chỉ chú ý rửa tay ở những tình huống quan trọng khi nguy cơ lây nhiễm rõ ràng và bỏ qua việc rửa tay trong những tình huống khi nguy cơ lây nhiễm không rõ ràng (trước khi tiếp xúc bệnh nhân và sau sờ môi trường xung quanh bệnh nhân). Kết quả này cũng tương tự như khảo sát tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, tỷ lệ tuân thủ rửa tay sau khi sờ vào môi trường là thấp nhất trong 5 tình huống cần rửa tay.

    Tỷ lệ rửa tay giữa các khoa không đồng đều. Tỷ lệ rửa tay ở các khoa hồi sức cấp cứu, nơi có cường độ làm việc cao, lại có tỷ lệ tuân thủ rửa tay cao hơn các khoa khác. Điều này có thể do trang bị rửa tay nhanh đầy đủ, thuận tiện cho việc rửa tay và nhân viên y tế ở các khoa hồi sức cấp cứu được huấn luyện, nhắc nhở thường xuyên.
    Tỷ lệ tuân thủ rửa tay giữa các đối tượng khác biệt không có ý nghĩa. Ở các nghiên cứu khác, tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở bác sĩ thường cao hơn điều dưỡng. Tuy nhiên ở nghiên cứu này, tỷ lệ tuân thủ rửa tay giữa bác sĩ và điều dưỡng không có khác biệt.

    KẾT LUẬN

    Qua khảo sát tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế còn thấp. Việc sử dụng găng và rửa tay không được thực hiện theo đúng hướng dẫn. Cần có nhiều chương trình giáo dục, tập huấn liên tục nhằm cải thiện tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế. Kết quả nghiên cứu gợi ý chương trình giáo dục về rửa tay cần chú ý đến những thời điểm thường bỏ sót, đồng thời nên tập trung vào từng khoa và từng đối tượng.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO


    1. Akyol A, Ulusoy H, Ozen I. Handwashing (2006): a simple, economical and effective method for preventing nosocomial infections in intensive care units. J Hosp Infect. 2006 Apr;62 (4): 395-405. Epub 2006 Feb 14. Review. Retraction in: Dancer S. J Hosp Infect. 2006 Oct;64 (2): 99.
    2. Allegranzi B, Storr J, Dziekan G, Leotsakos A, Donaldson L, Pittet D (2007). First Global Patient Safety Challenge, WHO World Alliance for Patient Safety, World Health Organization, Geneva, Switzerland. The First Global Patient Safety Challenge "Clean Care is Safer Care": from launch to current progress and achievements. J Hosp Infect. Jun;65 Suppl 2: 115-23.
    3. Ban chống nhiễm khuẩn Bộ y Tế (2005). Tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện của 19 bệnh viện. Báo cáo trong hội nghị chống nhiễm khuẩn toàn quốc 2005
    4. Bischoff, W.E., et al. (2000), Handwashing compliance by health care workers. The impact of introducing an accessible, alcohol based hand antiseptic. Archives Internal Medicine 160: page 1017-21.
    5. Nguyễn Việt Hùng, Trương Anh Thư, Lê Thị Thanh Thủy (2006), Hiroshi Ohara. Đánh giá phương tiện, nhận thức, tuân thủ rửa tay ở nhân viên y tế tại một số cơ sở y tế của Việt Nam. Báo cáo trong hội nghị quốc tế JICA về chống nhiễm khuẩn tổ chức tại Hà Nội
    6. Pittet D, Mourouga P, Perneger TV (1990). Compliance with hand washing in a teaching hospital. Ann Intern Med, 130: 126-130
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh

  3. #3
    ducdien's Avatar
    ducdien is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-50
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    18
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    1/1
    Kinh nghiệm khám
    6

    Default

    Có 1 cái ứng dụng cho iPhone là iScrub, dùng để đếm rửa tay rất tiện.

    Các bác làm nghiên cứu trên ko cho biết tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở từng khoa ra sao. Tỷ lệ như vậy các bác có tiến hành can thiệp gì ko

  4. #4
    psydoc's Avatar
    psydoc is offline Sinh viên Y3
    Giấy phép số
    NT-272
    Cấp phép ngày
    Sep 2012
    Bệnh nhân
    72
    Cám ơn
    9
    Được cám ơn
    18/16
    Kinh nghiệm khám
    8

    Default

    Em hỏi một chút là ở Bạch Mai cũng như Việt Đức, mình có tiến hành những nghiên cứu đánh giá về mức độ nhiễm khuẩn bệnh viện tại từng khoa không ạ?

  5. #5
    drchinh's Avatar
    drchinh is offline CK I Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-2
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Thường ở
    Hanoi, Vietnam
    Bệnh nhân
    1,130
    Cám ơn
    198
    Được cám ơn
    677/365
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Quote Originally Posted by psydoc View Post
    Em hỏi một chút là ở Bạch Mai cũng như Việt Đức, mình có tiến hành những nghiên cứu đánh giá về mức độ nhiễm khuẩn bệnh viện tại từng khoa không ạ?
    Chắc chắn là có rồi. Tuy nhiên em cũng đang hóng xem có bác nào vào post bài hay nghiên cứu lên không
    Everywhere, we learn only from those whom we love
    Johann W. V. Goethe
    and drchinh


LinkBacks (?)

  1. 22-12-12, 07:45

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. [Tổng quan] Kiểm soát tăng huyết áp trong cấp cứu thần kinh
    By mdlelan in forum GÂY MÊ HỒI SỨC
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 07-07-16, 21:50
  2. Bệnh nhân: 3
    Last Post: 07-06-13, 11:36
  3. [Bài giảng] Đánh giá và kiểm soát đau trong cấp cứu
    By USYD in forum HSCC
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 19-06-12, 13:28

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •