Thoát vị đĩa đệm: mức độ bệnh và chỉ định điều trị

Thoát vị đĩa đệm là bệnh lý rất thường gặp, mỗi giai đoạn bệnh có phân loại rõ rệt và chỉ định điều trị thống nhất
Nếu phân loại giai đoạn bệnh sai sẽ dẫn đến lựa chọn phương pháp điều trị thất bại, gây hậu quả tốn kém tiền bạc, chất lượng sống giảm sút và gây di chứng kéo dài.
Chúng tôi đưa ra mức độ phân loại bệnh trên phim chụp cộng hưởng từ, mức độ chẩn đoán thể bệnh và chỉ định điều trị bệnh

  1. GIAI ĐOẠN THOÁI HÓA ĐĨA ĐỆM TRÊN PHIM CỘNG HƯỞNG TỪ

Đánh giá tình trạng thoái hoá đĩa đệm: Pfirrmann dựa vào phim chụp MRI chia độ thoái hóa đĩa đệm thành 5 độ:
Độ 1: Tín hiệu đồng nhất, màu trắng, chiều cao đĩa bình thường.
Độ 2: Không đồng nhất, màu trắng, chiều cao đĩa bình thường.
Độ 3: Không đồng nhất, màu xám, chiều cao đĩa giảm ít.
Độ 4: Không đồng nhất, xám đến đen, chiều cao đĩa giảm nhiều.
Độ 5: Không đồng nhất, màu đen, mất chiều cao đĩa đệm.
2. Phân loại thoát vị đĩa đệm tác động đến lựa chọn phương pháp điều trị
Phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau:
– Thoát vị nằm dưới dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn, chưa bị rách.
– Thoát vị qua dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau đã bị rách, khối thoát vị chui qua chỗ rách chèn ép rễ thần kinh
– Thoát vị đĩa đệm di trú:khối thoát vị di chuyển khỏi vị trí tương ứng với đĩa đệm (có thể lên trên hoặc xuống dưới
Phân loại theo sự tương quan giữa khối thoát vị của nhân nhầy với vòng sợi và dây chằng dọc sau ( theo Wood):
Phình đĩa đệm (Bulge): Là sự bè rộng của đĩa đệm ra xung quanh nhưng vẫn theo viền khớp, gây ra do yếu vòng xơ và dây chằng dọc sau, thường phình cân đối làm lõm bờ trước ống sống gây cản trở lưu thông dịch não tủy.
Lồi đĩa đệm (Protrusion): Là sự phá vỡ vòng xơ, nhân keo chui ra ngoài tạo thành ổ lồi khu trú, tiếp xúc với dây chằng dọc sau nhưng vẫn liên tục với tổ chức đĩa đệm gốc.
TVĐĐ thực sự (Extrusion): Là khối thoát vị đã chui qua vòng xơ, nhưng vẫn còn dính liền với phần nhân keo nằm trước dây chằng dọc sau.
TVĐĐ có mảnh rời (Sequestration): Là có một phần khối thoát vị tách rời ra khỏi phần đĩa đệm gốc nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di trú đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi xuyên qua màng cứng gây chèn ép tủy
Phân loại theo liên quan với rễ thần kinh, tủy sống:
Rothman và Marvel đã chia TVĐĐ ra sau thành ba loại:
– TVĐĐ giữa (thoát vị trung tâm): Chủ yếu chèn ép tủy sống, gây bệnh cảnh lâm sàng của chèn ép tủy.
– TVĐĐ cạnh bên (thoát vị cạnh trung tâm): Chèn ép cả tủy sống và rễ thần kinh, gây bệnh cảnh lâm sàng chèn ép rễ và tủy phối hợp.
– Thoát vị lỗ ghép (thoát vị bên): Chủ yếu chèn ép rễ thần kinh, gây bệnh cảnh chèn ép rễ.

3. Chỉ định điều trị
Cách phân loại này có ý nghĩa lớn trong chẩn đoán và điều trị phẫu thuật

  • Phình đĩa đệm, lồi đĩa đệm: điều trị nội khoa tuyệt đối (ít nhất 80% trường hợp khỏi bệnh với thay đổi chế độ sinh hoạt và lao động, nghỉ ngơi ở giai đoạn đau cấp tính, uống thuốc khi đợt đau cấp, luyện tập thể thao như bơm, đạp xe, đu xà…)
  • Thoát vị đĩa đệm thực thụ: điều trị nội khoa bao gồm nghỉ ngơi, nằm ván cứng, luyện tập và vật lý trị liệu, điều trị thực thụ 6- 8 tuần. Chỉ định mổ khi điều trị nội thất bại, rối loạn cơ tròn, đau quá mức mà thuốc giải đau không có tác dụng và liệt nhóm cơ mà rễ thần kinh bị chèn ép và teo cơ.
  • Thoát vị đĩa đệm di trú: chỉ định mổ bắt buộc