Results 1 to 3 of 3

Thread: Giải phẫu khe Sylvian

  1. #1
    mitdac's Avatar
    mitdac is offline Sinh viên Y3 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-77
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    83
    Cám ơn
    5
    Được cám ơn
    52/27
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default Giải phẫu khe Sylvian

    Operative anatomy and classification of the Sylvian Veins for the distal transsylvian approach
    Nguồn : Neurol Med Chir (Tokyo) 43, 427¿434, 2003

    Đại cương

    Tĩnh mạch sylvian có rất nhiều thay đổi về kích thước cũng như sự nối tiếp (1,2,4,6,8,9). Các nghiên cứu trước đây về các tĩnh mạch sylvian đã tập trung vào những điểm rất cơ bản, dựa vào phim chụp mạch, hình ảnh phim chụp cắt lớp ba chiều, hoặc các nghiên cứu giải phẫu trên xác (3,10-13). Tiêu chuẩn vàng của phẫu thuật ở vùng này là “ màng nhện ở vùng sylvian nên được mở ở bờ trán của các tĩnh mạch, bởi vì các tĩnh mạch không bắt chéo qua khe sylvian khi thùy trán được vén lên. Đôi khi có khoảng 2 đến 3 tĩnh mạch trán-ổ mắt chạy qua khe sylvian để đi vào tĩnh mạch não giữa có thể hy sinh được để hoàn thiện quá trình phẫu tích” (17). Tuy nhiên, việc hy sinh các tĩnh mạch của khe sylvian có thể để lại hâu quả nhồi máu tĩnh mạch sau phẫu thuật hoặc đụng dập (contusion) của thùy trán (7,10). Chúng tôi đã sử dụng đường vào qua khe sylvian ở phía xa (gọi là distal transsylvian approach) để bảo vệ các tĩnh mạch của khe sylvian cũng như các nhánh của nó (6). Tuy nhiên, một phương pháp chung cho việc phẫu tích để bảo vệ các tĩnh mạch sylvian rất khó có thể mô tả bởi vì sự biến đổi đa dạng của các tĩnh mạch này.

    Nghiên cứu này tìm hiểu những thay đổi giải phẫu của các tĩnh mạch khe sylvian trên 82 bên ở 82 bệnh nhân đã được mở khe sylvian, trong đường vào distal transsylvian với các tổn thương như aneurysm hoặc u não vùng parasellar. Dựa vào những dạng biến đổi trên, chúng tôi đã cố gắng đưa ra một phương pháp cho việc phẫu tích ở khe này, cho phép có được một phẫu trường phù hợp mà không phải hy sinh các tĩnh mạch của khe sylvian.

    Đối tượng và phương pháp

    82 bệnh nhân với các aneurysm động mạch cảnh trong (ICA) hoặc aneurysm đoạn ngoại vi động mạch thân nền hay các u vùng quanh chiasm đã được tiếp cận bởi đường vào distal transsylvian hoặc một đường vào thái dương trước cải tiến, được tiến hành ở khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện chữ thập đỏ Asahikawa từ năm 1998 đến 2001.

    Vi phẫu tích 82 bên được thực hiện qua đường vào distal transsylvian được mổ tả chi tiết ở (6). Một cách sơ lược, phẫu tích được bắt đầu từ khoảng 1-2cm ở phía ngoại vi của hồi trán-ổ mắt ngoài. Thân trước của động mạch não giữa (MCA) ở bề mặt của thùy đảo được xác định, tiếp đó phẫu tích được tiếp tục theo đoạn M1 của ICA theo kiểu retrograde. Bước cuối của quá trình phẫu tích là rạch màng nhện ở thành trabecula nằm trên cistern động mạch cảnh. Đường dẫn lưu và các dạng nhánh của các tĩnh mạch sylvian được ghi lại trong mổ.

    Hình 1. Hình minh hoa cấu trúc điển hình của tĩnh mạch sylviena bao gồm tSSV, fSSV, DMCV, FBBV. Phần nông: số lượng, vị trí và các điểm đổ vào rất thay đổi của các tĩnh mạch của thùy trán-ổ mắt ngoài. Phần giữa: DMCV chạy ở sau nhánh sau của động mạch não giữa. Phần sâu: FBBV bao gồm các nhánh tĩnh mạch khứu, tĩnh mạch não trước, tĩnh mạch trán-ổ mắt sau. Thân chung thẳng đứng là đoạn gần của fSSV, nơi mà DMCV và FBBV có thể nối với nhau. Lưu ý rằng nhánh chính của tĩnh mạch Sylvian chủ yếu dẫn lưu đổ vào fSSV.

    Kết quả

    Thuật ngữ

    Những biến đổi của các tĩnh mạch khe sylvian đã được phân loại dựa và các nhánh và dạng dẫn lưu của nó (hình 1). Các tĩnh mạch ở khe sylvian được chia thành 3 phần: nông, trung gian và sâu (hay phần nền).

    Phần nông (superficial): phần nông bao gồm các tĩnh mạch nông của khe sylvian (SSV: Superficial Sylvian Vein) hay còn gọi là tĩnh mạch não giữa nông. Thường thường, SSV bao ồm các nhánh trán-ổ mắt (Fronto-SSV:fSSV), trán-đỉnh (parieto-SSV), và thái dương trước (temporo-SSV: tSSV) (1,2). Chúng tôi định nghĩa SSV đơn nhất là một SSV với các nhánh từ cả thùy thái dương và thùy trán dẫn lưu vào xoang màng cứng như một thân đơn nhất. SSV kép ở chỗ đổ vào xoang màng cứng bao gồm một SSV với các nhánh từ thùy trán (fSSV) và một SSV khác với các nhánh từ thùy thái dương (tSSV). Cũng có một tĩnh mạch nhỏ khác ở vùng thái dương trước, tạo thành từ các nhánh ở hồi thái dương giữa và dưới, và còn được gọi là tĩnh mạch temporopolar. Tuy nhiên, nghiên cứu này sẽ không đề cập đến tĩnh mạch temporopolar.

    Phần trung gian: Phần trung gian bao gồm các tĩnh mạch của thùy đảo. Một nghiên cứu trước đây đã cho thấy tĩnh mạch của thùy đảo bao gồm 4 tĩnh mạch của khe trước, khe trước trung tâm, khe trung tâm và khe sau (12,16). Dẫn lưu của thân chung tĩnh mạch thùy đảo có thể được phân loại thành hai dạng: dạng điển hình với một thân chung dẫn lưu vào tĩnh mạch nền và dạng không điển hình với một thân chung dẫn lưu vào xoang sphenoparietal (SphenoParietal Sinus : SPS) (12). Nghiên cứu này cũng tìm hiểu những nối thông giữa thân chung của tĩnh mạch thùy đảo và SSV. Sự không có nối thông ở phẫu trường biểu thị thân chung của các tĩnh mạch thùy đảo dẫn lưu chính vào tĩnh mạch nền. Ở dạng này, phần trung gian không có ảnh hưởng đến việc phẫu tích khe sylvian.

    Phần nền: phần nền bao gồm tĩnh mạch khứu, tĩnh mạch trán-ổ mắt sau, tĩnh mạch não trước, và hai ngành từ chiasm. Tất cả các tĩnh mạch này tạo lên phần trước của tĩnh mạch nền (10). Nếu các tĩnh mạch này dẫn lưu vào tĩnh mạch nền, không có tĩnh mạch nào chạy ở trên ICA. Trong nghiên cứu này, một tĩnh mạch nhỏ chạy từ nền trán và dẫn lưu vào SPS được gọi là tĩnh mạch cầu trán-nền (frontal base bridging vein: FBBV). Một FBBV có thể dẫn lưu vào SPS như một thân đơn nhất, hoặc như một thân chung với SSV hoặc một nối thông tĩnh mạch với thân chung của các tĩnh mạch thùy đảo (thân chung thẳng đứng : common vertical trunk) (15).

    Các dạng dẫn lưu

    SSV: Dẫn lưu và sự đa dạng của SSV được phân loại thành 3 dạng: type I, SSV không có hoặc thiểu sản (8 cas, 10%); type II, SSV tồn tại như một thân đơn nhất dẫn lưu vào SPS (38 cas, 46%); và type III, SSV chứa hai thân chung (fSSV và tSSV) dẫn lưu và SPS (36 cas, 44%).

    Tĩnh mạch thùy đảo: các tĩnh mạch thùy đảo tạo thành một thân nối thông và dẫn lưu vào SPS trong 42 cas (51%). Không có sự nối thông giữa tĩnh mạch thùy đảo và SPS trong 40 cas (49%).
    FBBV: Có 1 FBBV trong 47 cas. Tĩnh mạch khứu, tĩnh mạch trán-ổ mắt sau, tĩnh mạch não trước và cặp tĩnh mạch từ chiasm được coi là các thành phần tạo lên phần đầu của tĩnh mạch nền trong 35 cas (10).

    Các dạng nhánh

    Các dạng nhánh cũng được phân loại. Type II được chia nhỏ thành 4 dưới nhóm (subtype) (hình 2): type Iia, chỉ có một SSV, không dẫn lưu vào tĩnh mạch não giữa sâu (DMCV: Deep Middle Cerebral Vein) và FBBV, dẫn lưu vào SPS (3 cas); type Iib, FBBV dẫn lưu vào SPS và SSV dẫn luuw vào SPS (8 cas); type Iic, DMCV dẫn lưu vào SSV và SSV dẫn lưu vào SPS (10cas ); và type Iid, cả FBBV và DMCV dẫn lưu vào SSV và SSV dẫn lưu vào SPS (10 cas). Có 7 cả ở type II không xếp loại được và các dưới nhóm ở trên.

    Type III được chia nhỏ thành bốn dưới nhóm giống như type II cộng với một tSSV (hình 3): type IIIa, chỉ tSSV + fSSV mà không có DMCV và FBBV, dẫn lưu vào SPS (7 cas); type IIIb, DMCV dẫn lưu vào fSSV và fSSV cùng với tSSV dẫn lưu vào SPS (8 cas); type IIIc, FBBV dẫn lưu vào fSSV và fSSV cùng với tSSV dẫn lưu vào SPS (10 cas); type IIId, cả FBBV và DMCV dẫn lưu vào fSSV và fSSV cùng với tSSV dẫn lưu vào SPS (9 cas). Có hai trường hợp không thể xếp loại vào các dạng ở trên.

    Bàn luận

    Giải phẫu phẫu thuật của tĩnh mạch sylvian

    Nghiên cứu này cho thấy SSV tồn tại trong 90% số trường hợp. Các nghiên cứu trước đây về đường dẫn lưu của SSv cho thấy SSV dẫn lưu vào SPS trong 68,2%, trực tiếp vào xoang hang trong 21%, tĩnh mạch màng não giữa trong 10%, xoang đá trên ở 0,71% và tĩnh mạch bất thường ở lỗ rách trong 0,71% (3). Đường dẫn lưu có thể được đánh giá trước mổ với phim chụp mạch hoặc hình ảnh cắt lớp 3 chiều (11-13,15). Trong nghiên cứu của chúng tôi, đường đi của SSV được ghi nhận phần trước phẫu trường, phía trước thái dương trong 90% trường hợp . Điều này phù hợp với các nghiên cứu trước cho rằng SSV dẫn lưu hoặc vào SPS hoặc trực tiếp vào xoang hang trong 62-89% (3,11).

    Dẫn lưu tĩnh mạch của thùy đảo chủ yếu qua DMCV. Dẫn lưu của thân chung tĩnh mạch thùy đảo được phân loại thành hai type: type điển hình với một thân chung dẫn lưu vào tĩnh mạch nền và type không điển hình với một thân chung dẫn lưu vào SPS như một thân chung thẳng đứng (common vertical trunk) (15). Các cấu tạo tĩnh mạch của thùy đảo phản ánh sự pha trộn của các nối tiếp nông và sâu (14).

    Chúng tôi cũng xác định được có sự nối thông đáng ghi nhận giữa SSV và thân chung của thùy đảo trong 51% trường hợp. Thân nối thông chung này được gọi là thân chung thẳng đứng (common vertical trunk), với các nhánh từ trán nền (FBBV) cũng nối vào (15). Trong phần lớn các trường hợp, nối thông của thân chung các tĩnh mạch thùy đảo và SSV xuất hiện giữa fSSV và thân chung các tĩnh mạch thùy đảo. Nối thông của thân chung các tĩnh mạch thùy đảo với SSv cũng có thể xuất hiện với tĩnh mạch trán-ổ mắt ngoài. Tuy nhiên, trong nhóm bệnh nhân của chúng tôi, không có trường hợp nào có nối thông giữa thân chung các tĩnh mạch thùy đảo với tSSV. Thân nối thông thường chạy sau ngành sau của MCA, rồi chạy dọc theo phía trong thùy thái dương. Thân chung các tĩnh mạch thùy đảo ít đổ về SPS mà không có nối thông với SSV.

    Trong nghiên cứu này, các nhánh từ trán nền được gọi là FBBVs. FBBVs bao gồm tĩnh mạch khứu, tĩnh mạch trán-ổ mắt sau, tĩnh mạch não trước và cặp tĩnh mạch từ chiasm tạo lên phần đầu của tĩnh mạch nền (10). FBBV gặp trong 57% số trường hợp. FBBV có thể dẫn lưu vào SPS như một thân riêng rẽ hoặc một thân chung với SSV hoặc như một tĩnh mạch nối thông với thân chung các tĩnh mạch thùy đảo.

    Phương pháp phẫu tích tĩnh mạch khe sylvian

    SSV: màng nhện bao quanh các tĩnh mạch SSV dạng hình mũ (hình 4A). Sẽ an toàn nếu đi vào khe sylvian giữa hai tĩnh mạch SSV lớn ở phía ngoại vi của khe, bởi vì màng mềm mỏng hơn màng nhện (hình 4B). Phẫu tích thường được khuyến cáo ở bờ trán của SSV. Tuy nhiên, tĩnh mạch trán-ổ mắt ngoài thường làm hạn hẹp phẫu trường. Vì vậy, ngoại trừ một số hiếm trường hợp không có tĩnh mạch trán-ổ mắt ngoài, đường phẫu tích nên được tiến hành ở giữa màng mềm thái dương và SSV để bảo tồn tĩnh mạch trán-ổ mắt ngoài ở type II (hình 5). Các nhánh tĩnh mạch nhỏ từ hồi thái dương trên có thể được dịch chuyển khỏi màng mềm thái dương ở type II. Thân của SSV thường được di chuyển an toàn khỏi màng mềm phần trước thùy thái dương. Tất cả các nhánh đáng kể, tĩnh mạch hồi trán-ổ mắt ngoài, DMCV, FBBV đều nối với thùy trán ở type III. Vì vậy phẫu tích nên được tiến hành giữa fSSV và tSSV (hình 6). fSSV thường không thể xác định được lúc ban đầu trong đường vào distal transsylvian, vì vậy hướng phẫu tích nên đi về phía thái dương sau khi bắt đầu ở điểm gặp nhau của SSV. Nếu phẫu tích không cho phẫu trường đủ rộng ở khe sylvian, màng nhện của fSSV phải được bóc ra, điều này sẽ làm tăng tính di động của các tĩnh mạch khe sylviam và cho phép có thể vén được chúng.

    Phẫu tích các tĩnh mạch sphenobasal và sphenopetrosal nên được tiến hànhu bằng cách rạch màng nhện cho đến nền của cực thái dương được bộc lộ (hình 7). Tuy nhiên, giải phóng cực thái dương có xu hướng không hoàn toàn trong đường vào thái dương trước. Vì vậy đường vào extradural temporopolar là hợp lý để đi đến khoảng ngoài phía sau động mạch cảnh (lateral retrocarotid space) của các dạng tĩnh mạch này (5). Phẫu tích giữa periorbita và màng cứng thái dương cho phép vén ra sau ngoài các SSV cùng với thùy thái dương.

    Các tĩnh mạch thùy đảo: sự tồn tại của một thân chung thẳng đúng (common vertical trunk) (nối thông giữa DMCV và SSV) đòi hỏi phải phẫu tích giữa thân chung này với thùy trán. Tuy nhiên, nếu sử dụng đường vào thái dương trước (anterior temporal approach), phẫu tích nên được tiến hành giữa thân chung này và thùy thái dương trong. Đoạn gần của động mạch thái dương trước nằm đè lên thân chung thẳng đứng, vì vậy động mạch thái dương trước neo thân chung thẳng đúng này khi phẫu tích được tiến hành giữa tĩnh mạch và thùy thái dương trong (hình 6B). Trong trường hợp này, di chuyển đoạn gần động mạch thái dương trước sẽ làm tăng tính di động của thân chung thẳng đứng.

    FBBV: màng nhện bao quanh FBBV có thể được rạch bỏ để làm tăng tính di động của chúng. Tuy nhiên, tĩnh mạch này có một đoạn cistern ngắn, vì vậy sử dụng khoảng này đôi khi chỉ có một giới hạn nhất định, đặc biệt là khi sử dụng đường vào dưới trán (subfrontal). Hy sinh FBBV có thể dẫn đến nhồi máu não không biết trước ở nền thùy trán (10). Tỉ lệ tổn thương FBBV cao đến 50% có thể là biến chứng phẫu thuật đối với các aneurysm động mạch thông trước khi sử dụng đường vào pterional.

    Tài liệu tham khảo

    1) Aydin IH, Kadioglu HH, Tuzun Y, Kayaoglu CR, Takci E: The variations of Sylvian veins and cisterns in anterior circulation aneurysms. An operative study. Acta Neurochir (Wien) 138: 1380–1385, 1996
    2) Aydin IH, Tuzun Y, Takci E, Kadioglu HH, Kayaoglu CR, Barlas E: The anatomical variations of sylvian veins and cisterns. Minim Invasive Neurosurg 40: 68–71, 1997
    3) Bisaria KK: The superficial Sylvian vein in humans: with special reference to its termination. Anat Rec 212: 319–363, 1985
    4) Browder J, Krieger AJ, Kaplan HA: Cerebral veins in the surgical exposure of the middle cerebral artery. Surg Neurol 2: 319–325, 1974
    5) Day JD, Giannotta SL, Fukushima T: Extradural temporopolar approach to lesions of the upper basi- lar artery and infrachiasmatic region. J Neurosurg 81: 230–235, 1994
    6) Ito Z: Microsurgery of Cerebral Aneurysm. Tokyo, Nishimura/Elsevier, 1985, pp 95–201
    7) Kageyama Y, Fukuda K, Kobayashi S, Odaki M, Nakamura H, Satoh A, Watanabe Y: Cerebral vein disorders and postoperative brain damage associated with the pterional approach in aneurysm surgery. Neurol Med Chir (Tokyo) 32: 733–738, 1992
    8) Oka K, Rhoton AL, Barry M, Rodriguez R: Microsur- gical anatomy of the superficial veins of cerebrum. Neurosurgery 17: 711–748, 1985
    9) Ono M, Rhoton AL, Peace D: Microsurgical anatomy of the deep venous system of the brain.Neurosurgery 15: 621–657, 1984
    10) Saito F, Haraoka J, Ito H, Nishioka H, Inaba I, Yamada Y: [Venous complication in pterional ap-proach: about fronto-temporal bridging veins].Sur-gery for Cerebral Stroke26: 237–241, 1998 (Jpn)
    11) Stein RL, Rosenbaum AE: Deep supratentorial veins, in Newton TH, Potts DG (eds): Radiology of the Skull and Brain, vol II, book 3. St Louis, CV Mosby, 1974, pp 1903–2110
    12) Suzuki Y, Matsumoto K: Variations of the superficial middle cerebral vein: classification using three-dimensional CT angiography. AJNR Am J Neu-roradiol21: 932–938, 2000
    13) Taber KH, Hayman A, Muszynski CA: A guide to the venous drainage of the anterior Sylvian fissure. J Comput Assist Tomogr24: 343–346, 2000
    14) Varnavas GG, Grand W: The insular cortex: morpho-logical and vascular anatomic characteristics. Neurosurgery44: 127–138, 1999
    15) Wolf BS, Hung YP: The superficial sylvian venous drainage system.AJR Am J Roentgenol89: 398–410, 1963
    16) Wolf BS, Hung YP: The insula and deep middle cerebral venous drainage system. Normal anatomy and angiography.AJR Am J Roentgenol90: 474–489, 1963
    17) Yasargil MG: Microneurosurgery, vol 1. Stuttgart, New York, Georg Thieme Verlag, 1984, pp 5–57

  2. The Following User Says Thank You to mitdac For This Useful Post:

    ngocdungcam (23-10-13)

  3. #2
    xuathuyetnao's Avatar
    xuathuyetnao is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-228
    Cấp phép ngày
    Sep 2012
    Bệnh nhân
    16
    Cám ơn
    1
    Được cám ơn
    3/3
    Kinh nghiệm khám
    6

    Default

    Chào bác mitdac, tôi đang tìm bác sĩ thần kinh nào ở Hà Nội hiểu rõ về Arnold Chiari, muốn đem phim MRI của con gái đến nhờ cậy xem giúp. Cháu đi chụp MRI, bác sĩ đọc phim nói hạnh nhân tiểu não tụt 7mm so với lỗ chẩm. Bác có biết bác sĩ nào ở Hà Nội chuyên về cái hội chứng này không ạ, làm ơn chỉ giúp tôi với. Đa tạ bác nhìu.

  4. #3
    mitdac's Avatar
    mitdac is offline Sinh viên Y3 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-77
    Cấp phép ngày
    Jul 2012
    Bệnh nhân
    83
    Cám ơn
    5
    Được cám ơn
    52/27
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Chào bạn. Xin lỗi vì trả lời chậm. Phải đi khám bệnh nhé.nko chỉ dựa vào hình ảnh mà phán được. Phải dựa chủ yếu trên lâm sàng nhé. Nếu cần bạn cứ Liên hệ đến khoa PTTK Việt Đức nhé

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. [Nghiên cứu] Giải phẫu Đầu Mặt Cổ - Hình ảnh minh họa.
    By TOMDUY in forum GIẢI PHẪU
    Bệnh nhân: 7
    Last Post: 30-03-17, 09:08
  2. [Bài giảng] Giải phẫu nội soi Tai Mũi Họng
    By BS.TMH in forum TAI MŨI HỌNG
    Bệnh nhân: 1
    Last Post: 05-09-16, 10:48
  3. [Ca lâm sàng] Những kỹ thuật cơ bản trong giải phẫu bệnh
    By thanhtam in forum GIẢI PHẪU BỆNH
    Bệnh nhân: 6
    Last Post: 31-03-16, 17:08
  4. [Tổng quan] Giải phẫu và vai trò của dây chằng chéo trước
    By Echhoangtu in forum CHẤN THƯƠNG
    Bệnh nhân: 2
    Last Post: 05-06-15, 17:04
  5. [Hỏi đáp] Cấu trúc Giải Phẩu chi trên.
    By khanhduyee04 in forum GIẢI PHẪU
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 21-02-14, 16:56

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •