Results 1 to 1 of 1

Thread: Xuất huyết não và các thuốc kháng đông đường uống mới

  1. #1
    mdlelan's Avatar
    mdlelan is offline Sinh viên Y2
    Giấy phép số
    NT-10472
    Cấp phép ngày
    Dec 2014
    Thường ở
    HCM
    Bệnh nhân
    37
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    4/3
    Kinh nghiệm khám
    4

    Smile Xuất huyết não và các thuốc kháng đông đường uống mới

    XUẤT HUYẾT NÃO VÀ CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG ĐƯỜNG UỐNG MỚI
    Bs.CK2. Nguyễn Ngọc Anh. Khoa Gây Mê Hồi Sức. Bệnh viện Nhân Dân 115


    Tóm tắt: Các thuốc kháng đông đường uống mới ngày càng được sử dụng rộng rãi trên lâm sàng, do những lợi ích như duy trì tình trạng kháng đông ổn định, ít giao thoa với các thuốc khác hay thức ăn và không cần theo dõi các xét nghiệm sinh học. Hiện có 3 loại thuốc kháng đông đường uống mới có mặt trên thị trường gồm 2 thuốc có tác dụng ức chế yếu tố Xa là rivaroxaban, apixapan và thuốc ức chế trực tiếp thrombine là dabigatran. Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ đang sử dụng phổ biến rivaroxaban (Xarelto) trong dự phòng thuyên tắc phổi cho các phẫu thuật chỉnh hình và bệnh lý tim mạch cần dùng kháng đông (rung nhĩ không do bệnh van tim). Tuy nhiên, bất lợi lớn của thuốc kháng đông đường uống mới là khó xác định liều lượng thuốc bằng các xét nghiệm thông thường và không có sẵn thuốc đối kháng trên lâm sàng. Mặt khác, xuất huyết não có thể xảy ra ở những bệnh nhân đang điều trị thuốc kháng đông đường uống và làm tăng tỉ lệ tử vong của xuất huyết não. Mở rộng ổ xuất huyết thứ phát là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến kết quả xấu ở những bệnh nhân này. Mặc dù, các nghiên cứu về hiệu quả và độ an toàn của các thuốc này cho thấy có giảm nguy cơ xuất huyết não so với thuốc kháng vitamin K. Tuy nhiên, không có dữ liệu đáng tin cậy liên quan đến tiên lượng của các xuất huyết xảy ra trong khi điều trị thuốc kháng đông đường uống mới. Vì vậy, các bác sĩ đang ở trong một tình huống khó khăn khi xuất huyết quan trọng xảy ra (đặc biệt là xuất huyết não). Bài viết này dựa trên dữ liệu hiện có trong y văn, hy vọng sẽ cung cấp cho các bác sĩ Gây mê hồi sức những thông tin cần thiết để xử trí những trường hợp bị xuất huyết não do điều trị thuốc kháng đông đường uống mới.

    Từ khóa: thuốc kháng đông đường uống mới, xuất huyết não



    INTRACEREBRAL HEMORRHAGE AND NOVEL ORAL ANTICOAGULANTS
    Nguyen Ngoc Anh. MD, Department of Anesthesiology and Reanimation, People Hospital 115


    Abstract: The novel oral anticoagulants are widely and increasingly used in clinical practice due to their advantages such as predictable effect, fewer food and drug interactions and without need for biological monitoring. There are recently 3 available new oral anticoagulants on the market including 2 agents of the factor Xa inhibitor (rivaroxaban, apixapan) and the direct thrombin inhibitor agent (dabigatran). In Viet Nam, only rivaroxaban (Xarelto) are commonly used for prevention of pulmonary embolism in the orthopedic surgery and cardiovascular diseases require anticoagulants (non-valvular atrial fibrillation). However, the major disadvantage of new oral anticoagulants is difficult to determine the drug concentration in conventional assay conditions and the absence of an available specific antidote in clinical practice. On the other hand, intracerebral hemorrhage may occur in patients receiving anticoagulant therapy and the mortality rate associated with intracerebral hemorrhage in patients treated with oral anticoagulants is high. Secondary hematoma enlargement is one of the main reasons for poor outcome in patients with oral anticoagulants intracerebral hemorrhage. Although, studies of efficacy and safety prior to the marketing of these agents showed a decreased risk of intracerebral hemorrhage compared with vitamin K antagonists. However, no reliable data are available regarding the prognosis of these hemorrhages occurring during novel oral anticoagulants treatment. So, physicians are in a difficult situation when critical bleeding occurs (especially intracerebral hemorrhage). This article is based on available data of the current literature which is supposed to provide the necessary information to anesthesiologist for the management of patients with novel oral anticoagulants intracerebral hemorrhage.

    Keywords: novel oral anticoagulants, intracerebral hemorrhage




    XUẤT HUYẾT NÃO VÀ CÁC THUỐC KHÁNG ĐÔNG ĐƯỜNG UỐNG MỚI
    Bs.CK2. Nguyễn Ngọc Anh. Khoa Gây Mê Hồi Sức. Bệnh viện Nhân Dân 115

    I. ĐẶT VẤN ĐỀ

    Xuất huyết não có thể xảy ra ở những bệnh nhân (bn) đang điều trị thuốc kháng đông hay thuốc chống kết dính tiểu cầu. Trong trường hợp này, tác dụng của thuốc kháng đông sẽ làm cho việc tiên lượng về tổn thương thần kinh nặng thêm và làm tăng tỉ lệ tử vong [2],[3] mà nguyên nhân có thể giải thích là do rối loạn đông máu làm tăng thể tích khối máu tụ. Huttner và cs đã chỉ ra rằng nếu nhanh chóng tái lập khả năng cầm máu sẽ giảm được sự lan rộng khối máu tụ trong não ở những bn đang điều trị thuốc kháng vitamin K (AVK).

    Lợi ích của các thuốc kháng đông đường uống mới (nouveaux anticoagulant oral: NACO) là cho phép đạt được tình trạng kháng đông ổn định, ít giao thoa với các thuốc khác hay thức ăn và không cần theo dõi các xét nghiệm sinh học. Hai bất lợi lớn của NACO là khó có thể đạt được định lượng liều thuốc trong điều kiện bình thường và không có sẵn thuốc đối kháng trên lâm sàng. Hai bất lợi này, đặt ra vấn đề khó khăn trong những trường hợp bị xuất huyết não do NACO.

    Hiện có 3 loại NACO có mặt trên thị trường gồm hai thuốc có tác dụng ức chế yếu tố Xa là rivaroxaban, apixapan và thuốc ức chế trực tiếp thrombine là dabigatran. Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ đang sử dụng phổ biến rivaroxaban (Xarelto) trong dự phòng thuyên tắc phổi cho các phẫu thuật chấn thương chỉnh hình và bệnh lý tim mạch cần dùng kháng đông (rung nhĩ không do bệnh van tim). Bài viết này dựa trên dữ liệu hiện có trong y văn, hy vọng sẽ cung cấp cho các bác sĩ Gây mê hồi sức những thông tin cần thiết để xử trí những trường hợp bị xuất huyết não do điều trị NACO.

    II. ĐẶC ĐIỂM DƯỢC LÝ VÀ DỊCH TỄ XUẤT HUYẾT NÃO DO NACO

    2.1. Đặc điểm dược lý của các NACO

    2.1.1. Cơ chế tác dụng: có thể tóm tắt qua sơ đồ sau
    [IMG][/IMG]
    2.1.2. Đặc điểm dược lý: có thể tóm tắt như sau [1]

    Bảng 1: Dược động học và chuyển hóa của NACO



    Bảng 2:
    Liều dùng của NACO cho mỗi loại chỉ định


    Ghi chú: *j (jour): ngày, clcr (clairance de la cretinine): độ thanh thải creatinine, tm: tĩnh mạch.

    Bảng 3: Nồng độ NACO đạt được trong huyết tương và sự thay đổi của các xét nghiệm đông máu

    [IMG][/IMG]

    2.2. Dịch tễ xuất huyết não do NACO

    2.2.1. Hậu quả và mức độ nặng của xuất huyết não do dabigatran

    Lauer và cs [5] đã nghiên cứu ở chuột để so sánh sự khác nhau về xuất huyết trong não giữa warfarine và dabigatran và tác giả thấy rằng thể tích khối máu tụ trong não giữa nhóm chứng và nhóm dabigatran không khác nhau, ngược lại warfarine làm tăng có ý nghĩa thể tích khối máu tụ so với nhóm chứng và nhóm dabigatran. Và qua đó tác giả cũng chỉ ra tăng áp lực nội sọ (ALNS) ở nhóm bn dùng warfarine nặng hơn nhóm chứng và nhóm dabigatran.

    Trong nghiên cứu RE-LY, đây là nghiên cứu đa trung tâm theo dõi trong hai năm, thực hiện trên 18.113 bn dùng dabigatran (220 hoặc 300 mg/ngày) và warfarine nhằm mục đích dự phòng tai biến mạch máu não và thuyên tắc hệ thống ở bn bị rung nhĩ, để so sánh tần suất tăng ALNS ở bn XHN do dabigatran và warfarine. Kết quả cho thấy tần suất tăng ALNS của nhóm bn dùng dabigatran là 0,4-0,6% thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm bn dùng warfarine là 1,5%.

    Một nghiên cứu đoàn hệ [6] mới đây ở Thụy Sĩ trên 183.000 bn rung nhĩ được điều trị dài ngày bằng AVK cho thấy nguy cơ tăng ALNS là 0,5%/năm, có nghĩa là rất thấp so với nghiên cứu RE-LY. Như vậy, tăng ALNS (trong XHN) do dabigatran coi như ít xảy ra ở những nước có chế độ kiểm soát INR nghiêm ngặt. Bên cạnh đó nghiên cứu RE-LY cũng đánh giá nguy cơ tăng ALNS khi kết hợp dabigatran với thuốc chống kết dính tiểu cầu dường như không tăng lên. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong thứ phát do tăng ALNS có vẻ tương tự trong 3 cách dùng thuốc kháng đông (41% dabigatran 200 mg, 35% dabigatran 300 mg và 36% warfarine).

    Gần đây nhất, nghiên cứu RELY-ABLE thực hiện tiếp tục theo dõi thêm 2 năm 3 tháng dối với những bn của nghiên cứu RE-LY còn tiếp tục dùng dabigatran (sau nghiên cứu), cho thấy 48% bệnh nhân của nghiên cứu RE-LY với nguy cơ tăng ALNS ổn định là 0,25-0,33%/năm (thời gian nghiên cứu trên 4 năm)

    Có thể tóm lại như sau:

    - Trong điều trị dự phòng tai biến mạch máu não và thuyên tắc hệ thống cho bn người lớn bị rung nhĩ bằng thuốc kháng đông trong thời gian dài thì nguy cơ XHN do dabigatran (trung bình 0,33%/năm) có vẻ thấp hơn do warfwarine (0,5-079%/năm).

    - Việc giảm nguy cơ này cần được duy trì và xác dịnh ngoài thử nghiệm lâm sàng.

    - Đối với những trường hợp bị tăng ALNS thì tỉ lệ tử vong tương tự nhau. Khoảng 50%, mặc dù cho đến nay trên thị trường vẫn chưa có thuốc đối kháng đặc hiệu cho dabigatran. Để giải thích vấn đề này, người ta cho là do sự hiện diện nồng độ cao của yếu tố tế bào xung quanh mạch máu não có thể hoạt hóa yếu tố VII, tạo điều thuận lợi cho cầm máu tại chổ. Trong khi bn được điều trị bằng AVK thì yếu tố VII được hoạt hóa kém hơn [5].

    Chọn cách điều trị để hóa giải tác dụng của dabigatran

    Cho đến nay vẫn chưa có một thuốc đối kháng đặc hiệu nào cho dabigatran, riêng đối với kháng thể thì đang trong quá trình nghiên cứu. Trong trường hợp cấp cứu (xuất huyết não), cần thiết làm giảm tác dụng chống đông của dabigatran người ta đề nghị:

    - Làm giảm nồng độ huyết tương của thuốc [7]:

    + Nếu thời gian bn uống thuốc <2 giờ: có thể cho uống than hoạt (toxicarb: 50-100g).

    + Trong các trường hợp khác như thời gian uống thuốc trên 2 giờ, quá liều, thay đổi chức năng thận (suy thận), có thể tiến hành lọc máu [8] (vì dabigatran kết hợp với protein rất thấp) để giảm nồng độ thuốc trong huyết tương: nếu lọc máu trong 2 giờ thì giảm được 62%, trong 4 giờ thì giảm 68%.

    Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cấp cứu xuất huyết não, bn có tổn thương thần kinh (hôn mê) thì việc tiến hành kỹ thuật này không phải dễ, hơn nữa không phải cơ sở nào cũng có thể tiến hành lọc máu.

    Hiện nay, nhóm nghiên cứu về lợi ích của cầm máu quanh mổ (Le groupe d’intérêt en hémostase périoperatoire (GIHP) đề nghị (không phải là khuyến cáo vì chưa đủ số liệu chứng minh) dùng phức bộ prothrombine đậm đặc (les concentrés de complexe prothrombiniques: CCP) hoặc CCPa (phức bộ prothrombine đậm đặc hoạt hóa) có tên thương mại là FEIBA cho những trường hợp cần phẫu thuật cấp cứu hoặc xuất huyết não do dùng dabigatran.

    2.2.2. Hậu quả và mức độ nặng của xuất huyết não do rivaroxatran (Xarelto)

    Hai nghiên cứu ROCKET AF và J-ROCKET AF đã so sánh hiệu quả và độ an toàn của rivaroxaban và AVK trong dự phòng thuyên tắc ở bn bị rung nhĩ không do van tim. Các nghiên cứu này được tiến hành trên 7.750 bn được điều trị rivaroxaban và 7.764 bn điều trị AVK và có kết quả là bn được điều trị rivaroxatran dài ngày có vẻ giảm nguy cơ tăng ALNS hơn so với nhóm dùng warfarine.

    Hai nghiên cứu ATLAS ACS-TIMI 46 và ATLAS ACS TIMI 51 được tiến hành nhằm đánh giá lợi ích của điều trị rivaroxaban kết hợp với thuốc chống kết dính tiểu cầu cho bn bị hội chứng mạch vành cấp. Kết quả cho thấy bằng chứng tăng liều phụ thuộc chảy máu, nhất là chảy máu trong não.

    Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy tần xuất tăng ALNS do rivaroxaban có vẻ thấp hơn do warfarine. Tuy nhiên, hậu quả thực tế của việc sử dụng thuốc này vẫn còn phải được tiếp tục đánh giá trong thời gian tới và dựa vào các số liệu theo dõi được.

    Ngoài những thử nghiệm điều trị, trong y văn còn có những trường hợp tăng ALNS riêng biệt do rivaroxaban đã được ghi nhận, các trường hợp này tiến triển thuận lợi mà không cần điều trị cầm máu. Tuy nhiên, điều này chưa có một số liệu sinh học nào được ghi nhận.

    Chọn cách điều trị để hóa giải tác dụng của rivaroxaban

    Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm để hóa giải tác dụng của rivaroxaban được thực hiện trên người và động vật:

    - Trong một nghiên cứu ở chuột [9], người ta đã chứng minh với liều CCP 50UI/kg, CCPa 100UI/kg và rVIIa 400µg/kg đã giảm rõ thời gian chảy máu (temps de saignement: TS) sau khi bị quá liều rivaroxaban. Trong một nghiên cứu khác ở khỉ đầu chó (babouin) dùng liều cao rivaroxaban, được truyền liên tục rVIIa thì chỉ thấy phục hồi một phần TS, trái lại khi được truyền liên tục CCPa thì gần như phục hồi bình thường TS. Người ta cũng ghi nhận CCPa và rVIIa không điều chỉnh được TQ, điều này liên quan tới những số liệu dược lý của rivaroxaban.

    - Một nghiên cứu khác được thực hiện ở thỏ [10], người ta ghi nhận CCP và rVIIa có tác dụng điều chỉnh một phần các thông số sinh học của đông máu qua đánh giá bằng phương pháp đo đàn tính máu đông (thrombo élastographie). Nhưng nó không điều chỉnh được thể tích máu chảy sau tổn thương gan lách hay thời gian chảy máu làm bằng phương pháp chích máu ở *** tai.

    - Để bổ xung cho các nghiên cứu trên động vật, có 3 nghiên cứu invitro thực hiện ở người tình nguyện khỏe mạnh [8] nhằm đánh giá hiệu quả của CCP, CCPa và rVIIa trong việc hóa giải tác dụng của rivaroxaban.

    + Nghiên cứu thứ nhất: sau khi cho bn uống rivaroxatran 20mg x 2 lần/ngày, sau đó dùng CCP với liều là 50UI/kg và thấy rằng với liều này điều chỉnh được sự kéo dài của TQ.

    + Nghiên cứu thứ hai: sau khi cho bn uống rivaroxaban, người ta lấy máu để đo hiệu quả kháng đông bằng phương pháp đo chức năng đông máu toàn bộ (test de génération de thrombine). Tiếp theo dùng CCP, CCPa và rVIIa có nồng độ trong huyết tương tăng dần để hóa giải tác dụng của rivaroxaban, người ta nhận thấy như sau:

    o CCP có nồng độ từ 0,25-0,50 UI/ml (tương đương với liều dùng là 12,5-25 UI/kg) thì điều chỉnh được sinh ra toàn bộ thrombine.

    o CCPa có nồng độ từ 0,25-0,5 UI/ml (tương với liều dùng là 20-40 UI/kg) thì điều chỉnh được tất cả các thông số của test đo chức năng đông máu toàn bộ.

    o rVIIa chỉ điều chỉnh được vài thông số động ở mật vài nồng độ nhất định.

    o Và cũng nghiên cứu này người ta ghi nhận là ở liều cao của CCP và CCPa có thể xảy ra nguy cơ tắc mạch mà ít được biết đến.

    + Nghiên thứ ba: các nhận định của các nghiên cứu trên đã được xác định bằng một nghiên cứu khác trên người tình nguyện khỏe mạnh. Trong nghiên cứu này tác giả cho biết để hóa giải tác dụng của rivaroxaban mà không đòi hỏi dùng liều CCP cao, khi xét nhiệm đông máu toàn bộ thực hiện trên mẫu máu toàn phần.

    Hiện nay, các đối kháng đặc hiệu của rivaroxaban vẫn còn đang trong quá trình nghiên cứu và chưa có mặt trê thị trường.

    2.2.3. Dịch tễ của xuất huyết não do apixatran

    Theo nghiên cứu ARISTOTLE [11], thực hiện trên 9.231bn điều trị apixaban và 9.127 bn điều trị AVK nhằm mục đích dự phòng thuyên tắc hệ thống ở bn bị rung nhĩ không do bệnh van tim. Mục tiêu của nghiên cứu là so sánh hiệu quả và mức độ an toàn của hai thuốc này. Kết quả cho thấy về nguy cơ XHN, nếu tính theo thang điểm HAS-BLED thì nhóm bn nhận apixaban có giảm hơn, về nguy cơ tăng ALNS (tính theo chỉ số ODDS thì nhóm apixaban cũng giảm hơn).

    Có hai nghiên cứu về việc kết hợp apixaban với thuốc ức chế tiểu cầu trong điều trị hội chứng mạch vành cấp. Kết quả cho thấy không giảm nguy cơ thiếu máu và tăng nguy cơ chảy máu, vì vậy các tác giả này khuyên không được dùng apixaban trong điều trị hội chứng mạch vành cấp [12],[13].

    Chọn lựa điều trị để hóa giải tác dụng của apixaban

    Thực sự hiện nay chưa có nhiều số liệu lâm sàng về việc điều trị hóa giải tác dụng của apixaban và cũng rất ít báo cáo về xuất huyết não do apixaban. Có một nghiên cứu của Martin AC [14] và cs sử dụng rVIIa , CCP hay fibinogene để hóa giải tác dụng của apixaban thực hiện trên thỏ. Nghiên cứu này cho thấy các thuốc này chỉ điều chỉnh được một phần các thông số sinh học, nhưng không làm thay đổi thời gian chảy máu, thậm chí fibrinogene còn làm nặng thêm chảy máu.

    III. THEO DÕI VÀ XỬ TRÍ XUẤT HUYẾT NÃO DO NACO

    Như chúng ta biết, nhờ sử dụng NACO trong điều trị dự phòng thuyên tắc hệ thống đã giảm được phân nửa nguy cơ tăng ALNS [15]. Tuy nhiên, bên cạnh đó nguy cơ xuất huyết não do các thuốc này vẫn còn tồn tại và là một thách thức, đặc biệt là tìm ra thuốc đối kháng đặc hiệu. Đã có một số khuyến cáo chung cho việc xử trí các trường hợp xuất huyết não do NACO như sau:

    - Trước tiên cố gắng tìm hiểu bn về tuổi, cân nặng, chỉ định, liều dùng, số lần dùng trong ngày và đặc biệt là lần dùng cuối cùng.

    - Ngừng ngay điều trị NACO.

    - Đo độ thanh thải reatinine để đánh giá chức năng thận.

    - Liên hệ với nơi có khả năng làm các xét nghiệm về đông máu, đồng thời báo cho bộ phận theo dõi dược.

    - Chọn cách điều trị để hóa giải tác dụng của NACO, ưu tiên bình thường hóa chức năng đông máu.

    Chọn phương pháp điều trị

    Cần nhắc lại là cho đến nay vẫn chưa có phương điều trị đặc hiệu cho bn bị xuất huyết não đang điều trị NACO. Dựa vào các nghiên cứu trên động vật và một số nghiên cứu hồi cứu trên bn dùng NACO bị xuất huyết não do té ngã, nhóm GIHP tạm thời đề nghị như sau:

    - Đối với bn xuất huyết não do dùng dabigatran và rivaroxaban: CCP với liều 50UI/kg hoặc CCPa (FEIBA) 30-50 UI/kg. Cần lưu ý:

    + Các thuốc này không điều chỉnh được hoàn toàn bất thường của xét nghiệm đông máu.

    + Nguy cơ tăng đông khi dùng liều cao CCP và CCPa cho đến nay vẫn chưa biết rõ.

    + Tiên lượng của tăng ALNS do XHN do thuốc kháng đông là việc tăng thể tích khối máu tụ, mà quan trong nhất là trong 24 giờ đầu.Vì vậy, cần quyết định điều trị sớm nếu có thể.

    + Hiện nay chưa có nhiều số liệu về lọc máu cho bn bị máu tụ trong não do dabigatran.

    + Cần làm lại bilan đông máu để đánh giá kết quả điều trị và tiếp tục theo dõi bn.

    - Đối với bn xuất huyết não do dùng apixaban: Spahn DR và cs [16] khuyên là đối với xuất huyết não do chấn thương trên bn đã dùng apixaban trước đó, thì có thể dùng CCP 50 UI/kg. Cần lưu ý:

    + Cho tới hiện nay vẫn chưa có số liệu lâm sàng về việc xử trí cho bn bị xuất huyết não do apixatran.

    + Những đề nghị của GIHP cho việc xử trí cấp cứu cho trường hợp chảy máu nguy kịch do rivaroxaban không áp dụng cho apixaban.

    IV. KẾT LUẬN

    - Cần phải nhanh chóng bình thường hóa chức năng cầm máu cho bn bị xuất huyết não do NACO.

    - Hiện tại vẫn chưa có thuốc đối kháng đặc hiệu cho NACO, trước mắt trong những trường hợp xuất huyết não do NACO thì tạm thời có thể áp dụng các đề nghị của GIHP.

    V. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Derlon V., Corbonois G. et al. (2014). “Hemorrhagic stroke and new anticoagulants”, AFAR, 33: pp. 540-47.
    2. Fang MC,Chang Y et al. (2004). “Advanced ages, anticoagulants intensity, and risk for intracranial hemorrhage among patients taking warfarin for atrial fibrillation”, Ann Interne Med, 141: pp. 745-52.
    3. Toyoda K., Okada Y. et al. (2005). “Antiplatelet therapy constributes to acute deterioration of intracerebral hemorrhage”, Neurology, 65: pp. 1000-4.
    4. Huttner HB, Schelliger PD et al. (2006). “Hematoma growth and outcome in treated neurcoritical care patients with intracerebral hemorrhage related to oral anticoagulants therapy: comparison of acute treatement strategies using vitamin k, fresh frozen phasma and prthrombin complex concentrates”, Stroke, 37: pp. 1465-70.
    5. Lauer A, Cianchetti FA et al. (2011). “Anticoagulation with the oral direct thrombin inhibitor dabigatran does not enlarge hematoma volume in experimental intracerebral hemorrhage”, Circulation, 124: pp. 1654-62.
    6. Friberge L, Rosenqvist M. et al. (2012). “Net clinical benefit of warfarin in patients with atrial fibrillation: a report from the Swedish atrial fibrillation cohort study”, Circulation, 127: pp. 2298-307.
    7. Levy JH, Faraoni D. et al. (2013). “Managing new oral anticoagulants in the perioperative and intensive care unit setting”, Anesthesiology, 1466: pp. 1466-74.
    8. Eerenberge ES, Kamphuisen PW et al. (2011). “Reversal of rivaroxaban and dabigatran by prothrombin cpmplex concentrate a randomized, placebo-controlled, crossover study in heathy subjects”, Circulation, 124: pp. 1573-79.
    9. Perzborn E., Gruber A. et al. (2013). “Reversal of rivaroxaban anticoagulation by haemostatic agents in rats and primates”, Thromb haemost, 110: pp. 162-72.
    10. Godier A., Miclot A. et al. (2012). “Evaluation of prothrombin complex concentrate and recombinant activated factor VII to reverse rivaroxaban in a rabit model”, Anesthesiology, 116: pp. 94-102.
    11. Ogawa S., Shinohara Y. et al. (2011). “Safety and efficacy of the oral direct factor Xa inhibitor apixaban in Japanese patient with non-valvular atrial fibrillation: The ARISTOTLE-J study”, Circ J, 75: pp. 1852-9.
    12. Alexander JH, Becker RC et al. (2009). “Apixaban, an oral direct selective factor Xa inhibitor, in combination with antiplatelet therapy after acute ischemic and safty events: APPRAISE trial”, Circulation, 119: pp. 277-85.
    13. Alexander JH, Lopes LD et al. (2011). “Apixaban with antiplatelet therapy after acute coronary syndrome”, N Engl J Med, 365: pp. 699-708.
    14. Marti AC, Le Bonniec B. et al. (2013). “Evaluation of recombinant activated factor VII, prothrombin complex concentrate, and fibrinogen concentrate to reverse apixaban in a rabit model of bleeding and thrombosis”, Int J Cardiol, 168: pp. 4228-33.
    15. Catterjee S., Sarda P. et al. (2013). “New oral anticoagulatants and the risk of intracranial hemorrhagae:traditional and Bayesian meta-analysis and mixed treatment comparison of randomize trials of new oral anticoagulants in atrial fibrillation”, JAMA Neurol, 70: pp. 1486-90.
    16. Spahn DR, Bouillon B. et al. (2013). “Management of bleeding and coagulopathy following major trauma: an update European guideline”, Cirt care, 17: R76.
    Last edited by mdlelan; 14-10-15 at 12:10.

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 18-04-16, 10:18
  2. Bệnh nhân: 0
    Last Post: 14-10-15, 11:50
  3. [Giúp đỡ] Dùng thuốc kháng histamin trong điều trị sốt xuất huyết ?
    By mthmu in forum TRUYỀN NHIỄM
    Bệnh nhân: 1
    Last Post: 01-02-14, 21:36
  4. [Tổng quan] Điều trị chu phẫu bệnh nhân dùng thuốc kháng đông uống
    By drthanhtam in forum GÂY MÊ HỒI SỨC
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 07-07-13, 20:11

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •