Results 1 to 1 of 1

Thread: Gây mê trong phẫu thuật cấp cứu hàm mặt

  1. #1
    mdlelan's Avatar
    mdlelan is offline Sinh viên Y2
    Giấy phép số
    NT-10472
    Cấp phép ngày
    Dec 2014
    Thường ở
    HCM
    Bệnh nhân
    43
    Cám ơn
    0
    Được cám ơn
    4/3
    Kinh nghiệm khám
    4

    Default Gây mê trong phẫu thuật cấp cứu hàm mặt

    GÂY MÊ TRONG PHẪU THUẬT CẤP CỨU HÀM MẶT
    Bs.CK2. Trần Thanh Tùng, ThS.Bs. Lê Hoàng Quân, khoa GMHS, Bệnh viện Nhân Dân 115

    I. GIỚI THIỆU

    Các trường hợp phẫu thuật hàm mặt cấp cứu phổ biến thường do nhiễm trùng hoặc chấn thương. Hiểu biết thấu đáo về nguy cơ các biến chứng và tiếp cận một cách hệ thống trong kiểm soát đường thở là vấn đề thiết yếu để có thể đạt được kết quả tốt cho bệnh nhân.

    II. TỔNG QUAN

    2.1. Nhiễm trùng vùng đầu và cổ

    Mặc dù có nhiều tiến bộ trong vi sinh học và điều trị kháng sinh, nhưng điều trị nhiễm trùng ở đầu và cổ thường cần phải phẫu thuật. Nhiễm trùng đầu và cổ có thể biểu hiện là các biến chứng đe dọa tính mạng như tắc nghẽn đường thở, nhiễm trùng lan xuống trung thất và huyết khối tĩnh mạch xoang hang, tất cả đều làm tăng tỉ lệ biến chứng và tử vong.

    2.1.1. Sinh lí bệnh

    Nhiễm trùng có nguồn gốc từ răng khởi đầu với sâu răng/phân hủy răng và tiến triển đến viêm tủy răng là dạng viêm buồng thần kinh ở trung tâm răng. Nhiễm trùng sau đó lan vào xương và gây thủng vỏ xương đi vào vùng dưới màng xương (subperiosteal region). Các khoang vùng đầu và cổ là các khoang ảo được giới hạn bởi cơ và xương. Các cơ bám và các khoang vùng đầu cổ sẽ chi phối hướng lan của nhiễm trùng đến các khoang mô mềm. Nắm vững kiến thức về hệ cơ hàm mặt có thể giúp dự đoán con đường nhiễm trùng. Các khoang vùng mặt thường bị ảnh hưởng được minh họa trong hình 1. Nhiễm trùng có thể lan từ những vị trí này vào hố dưới thái dương (infratemporal fossa), khoang dưới thái dương (subtemporalis space) và khoang cạnh hầu (parapharyngeal space). Nó thể hiện sự lan rộng khu trú hoặc trực tiếp.

    Lan rộng từ vùng hàm trước (mô mềm hàm trước bao gồm răng nanh và một phần khoang miệng) có thể tiến triển thành viêm mô tế bào hốc mắt. Nếu không kiểm soát nó có thể dẫn đến huyết khối tĩnh mạch xoang hang. Áp-xe cạnh hầu thường ít có các dấu hiệu lâm sàng cho đến khi tổn thương đường thở như phù nề trong miệng hoặc cạnh hầu. Nguyên nhân thường gặp là răng khôn và nó còn gây viêm dưới cơ cắn (submasseteric inflammation) và cứng hàm (trismus). Khám họng gần như không thể phát hiện cứng hàm nặng và thường đánh giá sai bệnh nhân (đánh giá nhẹ hơn thực tế) do phù nề không nhìn thấy được.


    Hình 1: Mặt cắt dọc của hàm dưới bên phải cho thấy các đường lây lan nhiễm trùng tiềm năng từ một răng khôn bị sâu (A). Mặt cắt đứng ngang của hàm dưới phải và các đường lan truyền nhiễm trùng tiềm năng từ một răng khôn sâu (B). “nguồn Morosan, 2012, Anaesthesia, Critical Care & Pain”

    Các biến chứng do lan rộng nhiễm trùng tới các khoang mặt và cổ bao gồm tắc nghẽn đường thở, viêm trung thất (mediastinitis) và viêm phổi hít mủ do vỡ tự phát hoặc vỡ do điều trị trong nỗ lực đặt nội khí quản (NKQ).

    Sự lan rộng theo đường máu (haematogenous) có thể dẫn đến viêm tắc tĩnh mạch (thrombophlebitis), nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng van nhân tạo hoặc nhiễm trùng các khớp và toàn thân. Sự lan rộng của nhiễm trùng còn bị ảnh hưởng do suy giảm sức đề kháng của bệnh nhân như đái tháo đường, bệnh ác tính hoặc suy giảm miễn dịch.

    2.1.2. Lưu ý trước mổ đối với phẫu thuật áp-xe răng

    Tất cả bệnh nhân cần đánh giá trước mổ đầy đủ và thích hợp để xác định mức độ tiến triển của bệnh, đặc biệt tìm kiếm các dấu hiệu tiềm ẩn của tổn thương đường thở, dự kiến khó kiểm soát đường thở và các bệnh lí đi kèm. Tiền sử rối loạn ngôn ngữ, nuốt đau, phù nặng nhanh chóng và cứng hàm nặng có thể là biểu hiện của tắc nghẽn đường thở một phần. Thở rít và nuốt khó thường là dấu hiệu muộn và thở rít có thể không có khi bệnh nhân nghỉ ngơi.

    Cần đánh giá cẩn thận đường thở bằng các kĩ thuật tại giường thường quy như điểm Mallampati, khoảng cách giữa hai cung răng và hô răng hàm trên và bao gồm khám cổ chi tiết. Không thè lưỡi ra được là dấu hiệu rất nhạy của tổn thương bao gồm tổ chức dưới lưỡi và là dấu hiệu tốt dự báo đường thở xấu đi sắp xảy ra. Hạn chế há miệng có thể do cứng hàm. Đánh giá các kết quả có thể giúp dự đoán các khó khăn sắp xảy ra, hỗ trợ việc lên kế hoạch và quyết định thủ thuật sẽ áp dụng ví dụ thông khí bằng mask, đặt NKQ trực tiếp, đặt mask thanh quản hoặc phẫu thuật mở khí quản cấp cứu (Bảng 1). Bác sĩ gây mê và phẫu thuật viên nên bắt đầu sớm. Hình ảnh học trước mổ có thể tạo điều kiện thuận lợi cho chẩn đoán và các bác sĩ gây mê nên xem xét chiến lược phẫu thuật để đánh giá thêm về đường thở. Nội soi ống mềm qua đường mũi cũng là một lựa chọn có thể xem xét.

    2.1.3. Kĩ thuật gây mê

    Lựa chọn kĩ thuật gây mê phụ thuộc vào việc đánh giá đường thở, luôn sẳn sàng các thiết bị gây mê và phẫu thuật. Nhiều kĩ thuật gây mê đã được mô tả trong y văn bao gồm khởi mê tĩnh mạch thông thường với dãn cơ, gây mê hô hấp không dùng dãn cơ, đặt ống NKQ dưới gây tê tại chỗ trước khi khởi mê, đặt NKQ bằng ống soi mềm ở bệnh nhân tỉnh (awake fibreoptic intubation) hoặc mở khí quản với gây tê tại chỗ [2]. Cung cấp đầy đủ oxy trước thủ thuật, lấy đường truyền và theo dõi được áp dụng cho tất cả bệnh nhân bất kể kĩ thuật sử dụng.

    Cứng hàm thứ phát sau nhiễm trùng có thể không cải thiện sau khởi mê [3]. Trong trường hợp hạn chế há miệng và phù giới hạn trong khoang miệng, có thể xem xét khả năng sử dụng kĩ thuật đặt NKQ qua mũi bằng ống soi mềm. Trong báo cáo NAP-4 gần đây, nếu không xem việc đặt NKQ bằng ống soi mềm trên bệnh tỉnh như là kĩ thuật đầu tiên sẽ dẫn đến tác hại trực tiếp ở một số bệnh nhân. Tránh sử dụng dãn cơ khi tiên lượng soi thanh quản khó bằng kĩ thuật khởi mê hô hấp hoặc kĩ thuật TIVA có thể dẫn đến cảm giác an tâm sai và góp phần vào kết quả bất lợi ở một số trường hợp [2]. Tuy nhiên, kĩ thuật này đã sử dụng thành công ở một số trường hợp. Cần phải nhớ rằng tất cả kĩ thuật ban đầu đều có thể thất bại và phải chuẩn bị một kế hoạch dự phòng cụ thể trước khi bắt đầu gây mê. Tất cả mọi trường hợp liên quan đến mở khí quản phẫu thuật (surgical tracheostomy) cấp cứu cần gây mê nên thực hiện trong phòng mổ.

    Khi đã kiểm soát đường thở an toàn, có thể duy trì mê bằng thuốc mê hô hấp hoặc tĩnh mạch. Nên đặt một gói gạc thấm nước muối trong vùng hầu họng để thấm mủ, chất tiết, và máu. Kháng sinh sử dụng theo hướng dẫn vi sinh tại bệnh viện. Có thể dùng dexamethasone khi cần.

    Bàn mổ có thể cần xoay tới 900 hoặc 1800. Có thể cho giảm đau như paracetamol, kháng viêm non-steroid, gây tê tại chỗ trong miệng và opioid tác dụng kéo dài.

    2.1.4. Điều trị sau mổ

    Quyết định rút ống NKQ sau mổ cần thực hiện dựa trên từng trường hợp cụ thể và sau thảo luận với phẫu thuật viên. Đối với bệnh nhân còn phù đáng kể và thở rít, có thể tiếp tục dùng thuốc an thần và thở máy cho đến khi an toàn hơn để rút ống. Một số bệnh nhân có khả năng phát triển phù hơn nữa sau mổ, đặc biệt là những bệnh nhân viêm tấy lan tỏa và hoại thư ở sàn miệng (Ludwig’s angina) hoặc bao gồm vùng cạnh hầu.

    2.1.5. Ludwig’s angina

    Ludwig’s angina là viêm mô tế bào đe dọa tính mạng ở sàn miệng liên quan đến hai khoang dưới hàm dưới và dưới lưỡi hai bên. Nó được Wilhelm Friedrich von Ludwig mô tả lần đầu tiên vào năm 1836. Một dấu hiệu dự báo tốt của tổn thương liên quan vùng dưới lưỡi là bệnh nhân không thể thè lưỡi ra. Nó liên quan đến hình dạng giải phẫu của cơ cằm lưỡi (genioglossus) có hình chữ c. Phần lõm của chữ c tạo ra khoang dưới lưỡi. Khi bị lấp đầy (phù nề hoặc mủ) thì cơ không thể gấp lại như trong trường hợp thè lưỡi.

    Mở khí quản phẫu thuật thường khó và đôi khi đe dọa tính mạng do liên quan đến cổ và các mô trước khí quản. Rạch xuyên qua các cân trước khí quản và bộc lộ các mô trước cột sống với các tác nhân gây bệnh làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vào trung thất. Mặc dù, y học có nhiều tiến bộ nhưng viêm trung thất vẫn có tỉ lệ tử vong đáng kể [4].

    2.2. Chấn thương mặt

    Mặt là một bộ phận phức tạp, tạo cho chúng ta khả năng ăn, nói, ngửi, nghe, nhìn và tương tác với xã hội. Tổn thương mặt có thể đe dọa tính mạng do tổn thương đường thở và do mất máu đáng kể.

    2.2.1. Lưu ý về giải phẫu học

    Xương mặt gồm nhiều xương đan vào nhau tại các đường khớp. Nó được thiết kế để thực hiện một số chức năng nhất định nhưng trong bối cảnh chấn thương chúng hoạt động như vùng hấp thụ xung lực để phân bố đều năng lượng truyền vào mặt nhằm giảm thiểu tổn thương cho hộp sọ và não. Có những điểm yếu trên xương mặt cũng như những vùng xương dày đặc gọi là bờ/trụ (buttress) (Hình 2). Gãy xương mặt xảy ra tại các điểm đặc trưng nơi các xương là yếu nhất và khi các trụ bị vỡ nó thường ít bị vỡ thành các mảnh nhỏ. Có những điểm yếu khác ở các xương mặt do bị các cấu trúc quan trọng xâm nhập tạo thành các lỗ trong vỏ xương. Ví dụ như lỗ dưới hốc mắt chứa các nhánh của dây thần kinh hàm trên (nhánh V2) và các mạch máu dưới hốc mắt.

    Lưỡi nối với hàm dưới bằng hai cơ cằm lưỡi bám vào các lồi củ cằm (genial tubercles) trên bề mặt lưỡi của phần trước xương hàm dưới (anterior mandible). Gãy xương hàm dưới trước hai bên có thể gây tụt lưỡi ra sau vào vùng hầu họng và bệnh nhân tỉnh táo bị chấn thương này sẽ ngồi dậy về phía trước để bảo vệ đường thở. Ở bệnh nhân nằm ngửa bất tỉnh không được bảo vệ đường thở, kiểu gãy này sẽ gây tử vong.

    Mặt có nguồn cấp máu rất tốt và gãy xương mặt đặc biệt vùng giữa mặt có thể gây chảy máu nặng. Điểm này có thể không được chú ý đầy đủ ở bệnh nhân nằm ngửa bất tỉnh do máu có thể tích tụ trong đường thở, cổ họng và dạ dày.



    Hình 2: Các trụ/bờ (buttress) ở mặt. “nguồn Springer.com”

    2.2.2. Khái niệm cơ bản của truyền năng lượng

    Truyền năng lượng là một khái niệm quan trọng để giải thích khi đối mặt với bất kì dạng chấn thương nào. Nên hiểu rằng tổng lực tác động không quan trọng bằng số lượng năng lượng truyền vào các mô, nó tỉ lệ thuận với mức độ tổn thương mô đó sẽ xảy ra. Có thể minh họa bằng cách dễ dàng nhất là trong chấn thương đạn đạo. Viên đạn của súng bắn tỉa đi nhanh hơn vận tốc âm thanh trúng mặt và xuyên qua nó sẽ gây ra tổn thương tối thiểu. Nhưng viên đạn của súng ngắn bắn ra ở tốc độ thấp hơn nhiều nhưng viên đạn thường không thoát ra khỏi mô. Do đó, tất cả động năng của viên đạn súng ngắn truyền hết vào các mô dẫn đến tổn thương lớn hơn.

    2.2.3. Phân loại

    2.2.3.1. Gãy 1/3 dưới

    Một phần ba dưới mặt bao gồm hàm dưới và các răng của nó. Hàm dưới tạo thành một vòng nối với khớp thái dương-hàm và nền sọ. Vòng tròn thường rất khó bị phá vỡ tại một vị trí duy nhất và do đó hàm dưới thường bị gãy tại hai hay nhiều vị trí. Thông thường, gãy tại các vị trí khác nhau ở mỗi bên thường có tác động nhỏ trên đường thở, trừ khi có di lệch lớn hoặc gãy phần trước hai bên. Di lệch lớn gây chảy máu và có thể gây tụ máu dưới lưỡi đủ lớn sẽ gây tổn thương đường thở kiểu Ludwig’s angina. Vì chân răng là điểm yếu tự nhiên ở hàm dưới, nên răng nằm trong đường gãy có thể bị di lệch, lung lay hoặc rơi khỏi ổ.

    2.2.3.2. Gãy 1/3 giữa

    Phần giữa mặt được tạo thành từ xương hàm trên, xương gò má và nửa dưới của phức hợp mũi-mắt-sàng (naso-orbito-ethmoid complex). Phần này của mặt chứa mắt, đường thở mũi, xoang hàm trên và răng hàm trên. Phần giữa mặt có vai trò như vùng hấp thụ xung lực để bảo vệ não không bị tổn thương và thường bị liên quan trong chấn thương mặt. Chấn thương hàm dưới phức tạp có thể làm cho đường thở xấu đi và có thể gãy 1/3 giữa. Quan trọng hơn, tổn thương này có thể dẫn đến chảy máu nặng và có thể cần phải thực hiện các biện pháp cấp cứu ngay lập tức như đặt sonde Epistats, Rapid Rhinos, Foley và dụng cụ chặn khớp cắn như McKesson để nẹp hàm trên và chèn ép các điểm chảy máu.

    Gãy Le Fort (Hình 3) là dạng thường gặp trong chấn thương. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các dạng này được tạo ra trên các tử thi và có thể không xảy ra chính xác như vậy trong cơ thể.


    Hình 3: Phân loại gãy Le Fort. "nguồn drlarrywolford.com"

    Gãy Le Fort I bắt đầu ở phần dưới hốc mũi, sang cả hai bên, đi ngang trên các chóp răng, đi dưới và cách đường nối hàm trên gò má khoảng 1,5cm, kiểu gãy này là hàm trên bị gãy khỏi phần còn lại của mặt và thường không di động tự do. Chỉ trong trường hợp có sự truyền năng lượng lớn làm cho hàm trên bị lung lay và có nguy cơ rơi vào đường thở. Le Fort II là gãy phức hợp mũi và hàm trên khỏi các xương mặt (gãy tách rời sọ mặt thấp) và thường di động hơn so với Le Fort I. Le Fort III nặng hơn là gãy toàn bộ vùng giữa mặt rời ra khỏi nền xương sọ và mặt. Tổn thương Le Fort thường xảy ra theo kiểu kết hợp và thường bao gồm xương hàm dưới.

    2.2.3.3. Gãy 1/3 trên

    Một phần ba trên gồm xương trán, xương bướm và nửa trên phức hợp mũi-mắt-sàng và chứa mắt và các xoang cạnh mũi (trán, xoang sàng trước và sau và xoang bướm). Điểm yếu của xương trán là xoang trán và độ rộng của các khoang khí rất khác nhau giữa các cá nhân. Khi các xoang lớn, gãy xương trán có thể bao gồm nền sọ trước. Kiểu gãy xương này có thể phối hợp với rách màng cứng, rò dịch não tủy và do đó tăng nguy cơ nhiễm trùng.

    Gãy 1/3 trên là một thách thức lớn đối với bác sĩ gây mê vì thường cần đặt các ống trong mũi (sonde Foley, ống thông dạ dày qua mũi và đầu dò nhiệt độ). Do gãy di lệch và trong tình huống lâm sàng nặng chúng nằm trong thùy trán. Không có chống chỉ định tuyệt đối trong việc đặt các ống thông trong chấn thương sàn sọ, tuy nhiên cần nắm vững giải phẫu của sàn mũi ở tư thế nằm ngang và đứng thẳng và phải hết sức thận trọng khi đặt các ống thông trong bối cảnh này. Đặc biệt, gần đây có nhiều báo cáo ca lâm sàng do sonde lạc chỗ vào não [1]. Vì vậy, cần kiểm tra lại vị trí của sonde sớm sau khi làm thủ thuật, nhằm xử trí sớm để hạn chế các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.

    2.2.4. Lưu ý trước mổ trong phẫu thuật chấn thương hàm mặt

    Bài viết không bao gồm những bệnh nhân đã đặt NKQ. Cũng bắt đầu bằng một đánh giá chung trước mổ đầy đủ và theo nguyên tắc tương tự như trong phẫu thuật áp-xe răng. Đối với bệnh nhân chỉ bị chấn thương mặt, đánh giá đường thở nên bao gồm việc khám xét phù, sự thông suốt của mũi, há miệng và điểm Mallampati. Cứng hàm thường do đau và có thể mất khi gây mê. Tuy nhiên, nó có thể tồn tại vì những lí do cơ học và cần thảo luận với phẫu thuật viên. Cũng nên tham khảo hình ảnh học trước mổ. Các đường mổ cũng cần được xem xét vì có thể qua vạt da miệng, dưới kết mạc hoặc vạt da đầu. Có thể sử dụng các loại ống NKQ khác nhau như ống NKQ miệng (R.A.E tube) dành cho gãy xương gò má hoặc hốc mắt, ống NKQ mũi dành cho gãy xương khác bao gồm hàm dưới, gãy Le Fort hay bất kì trường hợp nào có lệch khớp cắn (malocclusion). Lựa chọn thay thế cho đặt NKQ miệng bao gồm mở khí quản hoặc đặt NKQ dưới cằm (submental intubation). Cần đặt một gói gạc trong họng, cố định giữa hai xương hàm trên sau mổ và theo dõi dây thần kinh mặt.

    2.2.5. Kĩ thuật gây mê

    Lựa chọn kĩ thuật gây mê dựa vào việc đánh giá đường thở và những khó khăn dự kiến. Máu trong đường thở có thể gây khó khăn cho một số kĩ thuật và vì vậy cần thận trọng và quyết đoán trong lựa chọn phương pháp điều trị (Bảng 1).

    Đau có thể giảm sau cố định xương gãy. Cần gây tê thấm tại chỗ với thuốc co mạch trong thủ thuật và có thể kết hợp với paracetamol, thuốc kháng viêm non-steroid và opiod tác dụng kéo dài. Có thể sử dụng dexamethason tĩnh mạch để giảm phù nề và nên tiếp tục dùng trong 48 giờ đầu tiên. Kháng sinh dự phòng được chỉ định cho những vết thương nhiễm bẩn, xuyên thấu miệng, lộ sụn và phá hủy mạch máu [5].

    Các bác sĩ gây mê cần phải cảnh giác và chuẩn bị cho những biến chứng tiềm năng trong mổ. Nhịp chậm phản xạ có thể xảy ra trong quá trình nâng xương gò má hoặc thao tác giữa mặt và có thể điều trị bằng thuốc kháng cholinergic như atropine. Mất máu do gãy xương mặt có thể lớn, vì vậy nên đặt đường truyền bằng kim lớn, bù dịch và chuẩn bị sẳn mẫu máu, nhóm máu. Các biến chứng khác bao gồm tổn thương ống NKQ, phản xạ mắt-tim (oculo-cardiac reflex) và vướng dây NKQ trên xương hàm [6].

    Bảng 1: Các vấn đề chính trong quyết định lựa chọn kĩ thuật gây mê

    Kĩ thuật Kĩ thuật Vấn đề chính Lưu ý Kết quả
    Khởi mê truyền thống sau đó thiết lập đường thở Tĩnh mạch + dãn cơ Dự kiến có khó khăn khi thông khí qua mask không?
    Miệng có mở rộng thích hợp hay không?
    Nếu không dự kiến được khó khăn và không thể mở đường thở, cần tiến hành thận trọng.
    Có thể cần: airway mũi, miệng, mask thanh quản
    Bn tỉnh với đường thở an toàn
    Khởi mê nhanh nếu có nguy cơ hít sặc Dự kiến đặt NKQ có khó không?
    Có thể vượt qua tất cả phù nề không?
    Có thể tắc nghẽn đường thở khó phát hiện không?
    Có thể lựa chọn soi thanh quản
    Đặt mask thanh quản
    Đặt qua ống soi mềm trên bn tỉnh
    Luôn có kế hoạch trong trường hợp không dự kiến được khó khăn, đặt NKQ thất bại và các tình huống CICV
    Bn tỉnh với đường thở an toàn
    Khởi mê nhanh nếu có nguy cơ hít sặc Thuốc mê hô hấp Trẻ em
    Bn người lớn không hợp tác
    Có thể mất thời gian hơn trong tắc nghẽn đường thở.
    Nguy cơ hít sặc, kích động, co thắt thanh quản
    Bn tỉnh với đường thở an toàn
    Đặt NKQ bằng ống soi mềm/bn tỉnh ± Gây tê
    ± An thần
    Dự kiến khó kiểm soát đường thở (thông khí qua mask hay đặt NKQ)
    Há miệng kém
    Có thể khó khăn nếu có máu trong đường thở. Cảnh giác tắc nghẽn đường thở tiến triển
    Có kế hoạch mở khí quản trong trường hợp thất bại
    Bn tỉnh với đường thở an toàn
    Mở khí quản dưới gây tê Đã có dấu hiệu tắc nghẽn đường thở chưa?
    Thất bại với phương kĩ thuật đặt NKQ bằng ống soi mềm/bn tỉnh
    Có thể khó nếu phù nhiều ở vùng cổ trước
    Lợi ích có lớn hơn nguy cơ không?
    Bn tỉnh với đường thở an toàn

    Ghi chú: CICV (cannot intubate and cannot ventilate): không thể đặt NKQ và không thể thông khí; NKQ: nội khí quản.

    2.2.6. Lưu ý sau mổ

    Rút ống NKQ cũng cần có kế hoạch thận trọng như khi đặt NKQ, cần lưu ý rằng mức độ phù nề có thể nặng hơn trong 48 giờ đầu tiên sau tổn thương, đặc biệt trong gãy Le Fort II và III. Gói gạc họng cần loại bỏ vào cuối cuộc mổ và hút sạch các mảnh vỡ và cục máu đông ở vùng hầu họng. Kéo cắt dây hoặc băng cố định luôn phải có sẵn. Nên rút ống NKQ khi bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo và luôn sẳn sàng các thuốc đặt NKQ cấp cứu và dụng cụ đường thở. Nếu còn phù nề, bệnh nhân nên nằm lại phòng hồi sức để theo dõi sát. Những bệnh nhân còn NKQ và thở máy nhập ICU.

    2.2.7. Tụ máu sau mổ

    Tụ máu (haematoma) trong giai đoạn hậu phẫu sớm là biến chứng không thường gặp nhưng có khả năng đe dọa tính mạng ở một số phẫu thuật hàm-mặt đặc biệt là phẫu thuật cổ, cắt tuyến giáp và phẫu thuật sàn miệng. Tỉ lệ gây tổn thương đường thở nặng rất thay đổi. Phẫu thuật giải ép cấp cứu do tụ máu bằng cách loại bỏ clip/chỉ khâu và lấy bỏ khối máu tụ bằng ống hút Yankaur có thể không làm giảm bớt tắc nghẽn đường thở do phù là hậu quả của tình trạng tắc nghẽn/sung huyết tĩnh mạch. Các phương pháp bảo vệ đường thở nên cân nhắc từ trước phẫu thuật nhưng dự kiến ​​sẽ rất khó khăn và cần có sự tham vấn của các chuyên gia.

    III. KẾT LUẬN

    Gây mê cho các trường hợp phẫu thuật cấp cứu hàm mặt thường gặp luôn là những thách thức lớn đối với bác sĩ gây mê. Mặc dù, trước đó các bệnh nhân này thường có đường thở bình thường nhưng hiện đang bị tổn thương và có đường thở khó. Không có một phương pháp nào phù hợp cho tất cả bệnh nhân và việc đánh giá cẩn thận và lập kế hoạch hiệu quả, tham khảo ý kiến các chuyên gia là chìa khóa để có kết quả thành công. Kế hoạch ban đầu có thể thất bại, do đó luôn có một kế hoạch dự phòng để kiểm soát đường thở trong những trường hợp này.

    IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nguyễn Ngọc Anh. (2012). Nhân một trường hợp sonde foley lạc chỗ vào trong não. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 16 (số 2): tr. 49-53.
    2. Patel A, Pearce A, Parcy P. (2011). Head and neck pathology. In: Cook T, Woodall N, Frerk C, eds. 4th. National Audit Project: Major Complications of Airway Management in the United Kingdom. RCoA, London. pp. 143-54.
    3. Clement ID. (2010). Infection and oral maxillofacial surgery: implications for an aesthesia. In: Shaw I, Kumar C, Dodds C, eds. Oxford Textbook of Anaesthesia for Oral and Maxillofacial surgery. Oxford University Press, Oxford. pp. 144-9.
    4. Athanassiadi KA. (2009). Infections of the mediastinum. Thorac Surg Clin, 19: pp. 37-45.
    5. Mc Kay MP, Mayersack RJ. (2011). Facial trauma in adults. Available from Initial evaluation and management of facial trauma in adults.
    6. Ross LL, Schendel SA, Cornaby T et al. (2004). Craniofacial surgery. In: Jaffe RA, Samuels SI, eds. Anesthesiologist’s Manual of Surgical Procedures. PA: Lippincott Williams & Wilkins, Philadelphia. pp. 896-902.
    Attached Images Attached Images
    Last edited by mdlelan; 13-11-17 at 12:52.

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Similar Threads

  1. [Bài giảng] Gây mê hồi sức trong phẫu thuật thần kinh
    By mdlelan in forum GÂY MÊ HỒI SỨC
    Bệnh nhân: 6
    Last Post: 21-11-17, 16:41
  2. [Tổng quan] Thuyên tắc khí trong phẫu thuật thần kinh
    By mdlelan in forum GÂY MÊ HỒI SỨC
    Bệnh nhân: 0
    Last Post: 22-05-17, 14:11
  3. [Kinh nghiệm] Vì sao cần sử dụng kính lúp trong phẫu thuật và thăm khám?
    By hoang5med in forum CÔNG NGHỆ Y HỌC
    Bệnh nhân: 1
    Last Post: 28-06-16, 15:59
  4. [Ca lâm sàng] Những kỹ thuật cơ bản trong giải phẫu bệnh
    By thanhtam in forum GIẢI PHẪU BỆNH
    Bệnh nhân: 6
    Last Post: 31-03-16, 17:08

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •