• Vụ chẩn đoán nhầm tử vong bào thai sớm

      05-01-18, 23:19
      Vụ chẩn đoán nhầm tử vong bào thai sớm
      Trong chuyên ngành sản phụ khoa, chẩn đoán sớm thai kỳ là điều hết sức khó khăn và là một thách thức vô cùng to lớn đối với các bác sĩ, đặc biệt trước các thai bệnh lý, thai dị tật, và ngay cả với những trường hợp tử vong bào thái sớm. Trên thế giới có rất nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán tử vong bào thai sớm, nhưng thực sự vẫn chưa có một tiêu chuẩn nào nhận được sự đồng thuận cao. Tất cả những điều này đang gây khó cho các bác sĩ, nhất là những bác sĩ còn ít kinh nghiệm.

      *****

      Gần đây, trên một số báo điện tử có thông tin rằng vào khoảng 2 giờ ngày 3 tháng 1 năm 2018, sau khi từ sân bay đi Nha Trang về, thai phụ NTT (sinh năm 1991, ở Long Biên, Hà Nội) bị ra máu nên đã được đưa vào Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cấp cứu. Tại khoa sản, chị được bác sĩ NVT trực tiếp khám. Sau khi siêu âm đường bụng, bác sĩ cho biết túi ối chưa thấy thai nên yêu cầu chị T nhập viện đồng thời chỉ định làm các xét nghiệm máu.

      Theo chị T, 7 giờ sáng cùng ngày, một bác sĩ khác vào thông báo kết quả máu của chị có lượng beta HCG cao vượt mức, có khả năng thai lưu, không phát triển. Thông báo này khiến chị lo lắng, hoang mang nhưng vẫn tiếp tục nằm lại viện với hy vọng cứu được thai nhi trong bụng.

      "Đến sáng ngày 4 tháng 1, bác sĩ T quay lại phòng bệnh để thăm khám buổi sáng và đến giường tôi, bác sĩ bảo trong ngày hôm nay phải đi làm thủ thuật hút thai. Vì theo kết quả xét nghiệm, thai chắc chắn đã chết lưu, không có tim thai không có chiều dài đầu-mông”, chị T kể.

      Sau khi thai phụ hỏi lại, bác sĩ này vẫn khẳng định như ban đầu. Để chắc chắn về kết quả trước khi thực hiện thủ thuật bỏ thai, gia đình chị T quyết định xin chuyển viện nhưng bác sĩ vẫn khuyên "không nên". Tuy nhiên cuối cùng vợ chồng chị vẫn quyết tâm tự chuyển viện.

      Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, kết quả siêu âm cho thấy thai nhi trong bụng chị T đang phát triển bình thường. Chị được kê đơn thuốc và cho về nhà nghỉ ngơi. "Bác sĩ cho rằng đó chỉ là do tôi bị động thai. Bác sĩ có nói thêm với thai bé phải siêu âm đầu dò mới chẩn đoán chính xác", thai phụ chia sẻ.

      Chị T cũng cho biết chiều cùng ngày chị đã quay lại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang để làm thủ tục nộp tiền viện phí. Lúc này, bác sĩ T mới thừa nhận bản thân quên không chỉ định siêu âm đầu dò với trường hợp bệnh nhân này nên đã kết luận thai chết lưu vội vàng.


      *****

      Khám siêu âm là phương pháp được lựa chọn trong chẩn đoán tử vong phôi thai sớm [1]. Có khoảng 1/3 phụ nữ bị sảy thai tại một vài thời điểm trong giai đoạn lứa tuổi sinh sản và tỷ lệ tử vong phôi thai sớm cao hơn so với các biến chứng thai kỳ sớm khác [2]. Việc chẩn đoán thai kỳ thất bại (failed pregnancy) có nhiều ảnh hưởng tới việc quản lý thai nghén đi kèm với tác động về mặt tình cảm có liên quan lên người mẹ. Hầu hết các khuyến cáo hiện nay liên quan tới chẩn đoán tử vong phôi thai sớm được rút ra từ kết quả của báo cáo điều tra công khai (public enquiry report) tìm hiểu các chẩn đoán sai về cái chết của phôi thai [3].

      Các khuyến cáo liên quan tới tiêu chuẩn siêu âm cho chẩn đoán thất bại thai kỳ trong 3 tháng đầu rất thay đổi. Hội Điện quang Hoa Kỳ (American College of Radiologists/ACR) khuyến cáo chẩn đoán tử vong phôi thai sớm khi phôi có chiều dài đầu-mông (crown–rump length/CRL) > 5 mm mà không có tim thai [4]. Tại Vương quốc Anh, báo cáo chung của Hội Sản Phụ khoa Hoàng gia (Royal College of Obstetricians and Gynaecologists/RCOG) và Hội Điện quang Hoàng gia (Royal College of Radiologists/RCR) khuyến cáo sử dụng tiêu chuẩn sau để chẩn đoán khả năng sống sót không chắc chắn của bào thai: túi thai (gestational sac) ngoài tử cung có đường kính trung bình < 20 mm mà không có túi noãn hoàng (yolk sac) rõ ràng, hoặc có bào thai (fetus) hoặc âm dội bào thai (fetal echo) có chiều dài đầu-mông (crown–rump length/CRL) < 6 mm mà không có tim thai rõ ràng [5],[6]. Hội Phụ khoa Canada (Society of Gynaecologists of Canada/SOGC) khuyến cáo chẩn đoán tử vong phôi thai sớm với độ chắc chắn khi đường kính trung bình của túi thái (gestational sac) > 8 mm mà không có túi noãn hoàng (yolk sac), hoặc khi đường kính trung bình của túi thái (gestational sac) > 16 mm mà không có phôi thai (embryo) trên hình ảnh chụp qua đường âm đạo (transvaginal scan) hoặc siêu âm qua đường âm đạo (transvaginal ultrasonography) [7]. Bằng chứng cho tất cả các khuyến cáo trên được rút ra từ các nghiên cứu rất nhỏ.

      Trong một bài tổng quan hệ thống (systematic review) [8], Giáo sư Jeve Y (Khoa Sản Phụ khoa, Bệnh viện đa khoa Leicester, Bệnh viện Đại học Leicester, Leicester, Vương quốc Anh) cho rằng có rất ít dữ liệu nghiên cứu theo thời gian có chất lượng cao để đưa ra các hướng dẫn chẩn đoán chính xác tử vong phôi thai sớm. Các phát hiện trong bài tổng quan hệ thống (bảng 2 bao gồm 8 nghiên cứu chính với 4 loại test) bị hạn chế bởi số lượng nghiên cứu và bệnh nhân quá ít, thời kỳ làm nghiên cứu, tuyển chọn cả sản phụ có triệu chứng và không có triệu chứng, và tiêu chuẩn chẩn đoán tử vong phôi thai sớm để tham chiếu rất thay đổi. Trước khi các hướng dẫn về chẩn đoán và quản lý an toàn sảy thai nguy hiểm được đề xuất, cần có một nghiên cứu theo thời gian đủ sức thuyết phục có sử dụng các kỹ thuật siêu âm hiện hành và một tiêu chuẩn chẩn đoán đậu thai (pregnancy success) hoặc mất thai (pregnancy loss) làm tham chiếu đã được đồng thuận.


      *****

      Như vậy, có rất nhiều tiêu chuẩn chẩn đoán tử vong bào thai sớm mà trong đó bao gồm có siêu âm thai qua thành bụng hoặc siêu âm thai qua âm đạo (siêu âm đầu dò), mỗi tiêu chuẩn chẩn đoán đều có những ưu và nhược điểm khác nhau. Do vậy, tùy theo từng cơ sở y tế, tùy theo năng lực của nhân viên y tế... mà những ưu hoặc nhược điểm của mỗi tiêu chuẩn chẩn đoán sẽ chiếm ưu thế hoặc không. Tuy nhiên, hơn bao giờ hết trong lúc này đối với Bệnh viện Đa khoa Đức Giang nói chung và các bác sĩ tại khoa sản nói riêng là không nên né tránh những sai lầm đó cho dù đây chỉ là sự cố, có làm sẽ có sai, điều quan trọng là thái độ của bệnh viện và các bác sĩ trước mỗi sự cố đó như thế nào để không tái lặp lại nó, giúp bệnh viện và các bác sĩ nâng cao kiến thức, có thêm kinh nghiệm trong công tác chuyên môn.

      *****

      Tài liệu tham khảo

      1. Elson J., Salim R., Tailor A. et al. (2003). Prediction of early pregnancy viability in the absence of an ultrasonically detectable embryo. Ultrasound Obstet Gynecol, 21 (1), 57-61.

      2. Wilcox A. J., Weinberg C. R., O'Connor J. F. et al. (1988). Incidence of early loss of pregnancy. N Engl J Med, 319 (4), 189-194.

      3. Hately W., Case J. and Campbell S. (1995). Establishing the death of an embryo by ultrasound: report of a public inquiry with recommendations. Ultrasound Obstet Gynecol, 5 (5), 353-357.

      4. Laing F., Mendelson E., Bohm-Velez M. et al. (2000). First trimester bleeding. American College of Radiology. ACR Appropriateness Criteria. Radiology, 215 Suppl, 879-893.

      5. Royal College of Radiologists and Royal College of Obstetricians and Gynaecologists (1995). Guidance on Ultrasound Procedures in Early Pregnancy, RCR/RCOG, <https://www.rcr.ac.uk/publication/gu...arly-pregnancy>, January 5, 2018.

      6. The association of Early Pregnancy Units (2007). AEPU organisational, clinical and supportive guidelines, AEPU, <http://www.ptmp.com.pl/archives/apm/...lines-7-28.pdf>, January 5, 2018.

      7. Creinin M. (2006). SOGC clinical practice guidelines: ultrasound evaluation of first trimester pregnancy complications. J Obstet Gynaecol Can, 28 (7), 581.

      8. Jeve Y., Rana R., Bhide A. et al. (2011). Accuracy of first-trimester ultrasound in the diagnosis of early embryonic demise: a systematic review. Ultrasound Obstet Gynecol, 38 (5), 489-496.

      Hà Phương
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Tin khác
    • Đọc nhiều