• Văn hoá khoa học ở người Việt Nam

      16-01-18, 11:56
      Văn hoá khoa học ở người Việt Nam
      Bài viết của Giáo sư Nguyễn Tuấn liên quan tới phản ứng của dư luận đối với công trình nghiên cứu khoa học xuất sắc của nhóm tác giả Ho Manh Tuong. Ngoài những đánh giá về công trình nghiên cứu, Giáo sư Tuấn còn đề cập tới nhiều thông tin khoa học đáng đọc khác. Các bạn nên đọc.

      =====
      Văn hoá khoa học ở người Việt Nam
      =====

      Những phản ứng trước công trình nghiên cứu trên tập san NEJM của Bs Lan & cộng sự thật là thú vị. Đa số khen thành tựu của nhóm nghiên cứu. Nhưng cũng có vài người tỏ ra nghi ngờ hay đánh giá thấp công trình nghiên cứu bằng những lời lẽ thất khó nghe đối với người làm khoa học. Thế mới biết hội chứng 'tall poppy' cũng rất phổ biến ở người Việt, ngay cả trong giới tạm gọi là 'có học.' Đáng lí ra Bs Lan và cộng sự trả lời, nhưng tôi thấy cần có vài lời giải thích thêm.


      Bài báo khoa học được đăng tải trên Tạp chí NEJM ngày 11/1.

      Có người nói nghiên cứu đó có gì đâu mà dám nói là thế giới xôn xao. Tuỳ cách hiểu thế nào là 'xôn xao', nhưng một nghiên cứu trong hàng vạn nghiên cứu được các hãng thông tấn quốc tế như Reuters (1) và các tờ báo lừng danh như New York Times (2) và Sydney Morning Herald (3) đưa tin kèm theo những bình luận tích cực của các chủ tịch hiệp hội sản phụ khoa trên thế giới, thì không nói xôn xao thì nói gì đây? Nên nhớ rằng mỗi ngày các nhóm truyền thông này nhận hàng trăm, có khi hàng ngàn, thông cáo báo chí về thành quả nghiên cứu khoa học, nhưng họ chỉ chọn 1-2 nghiên cứu để đăng tin. Ấy thế mà họ chọn nghiên cứu từ Việt Nam của nhóm nghiên cứu để đưa tin. Đó là một vinh dự, chứ không chỉ là 'xôn xao'.

      Báo chí Việt Nam có những bản tin có thể là hơi quá, nhưng không quá đáng. Đó là vấn đề của báo chí, trong cũng như ngoài nước, có xu hướng giật gân và “nói quá”. Ở Úc, báo chí thường xuyên thổi phồng những kết quả nghiên cứu trên những tập san “high profile”. Nhiều khi nghiên cứu trên chuột mà tác giả lại suy đoán cho ... người. Nhà báo thì muốn bán báo, còn nhà khoa học thì muốn PR để xin tiền. Tiền rất quan trọng; ngày nay, một nhà khoa học ở Úc mà không xin được tài trợ thì đồng nghiệp xem như là “you are no one”. Nghiệt ngã như thế đó. Thành ra, nếu hiểu câu chuyện đằng sau như thế thì chúng ta chẳng ngạc nhiên chút nào về mấy tờ báo bên VN có vẻ thổi phồng kết quả của nhóm nghiên cứu. Chúng ta bàn đến báo chí làm gì cho mất thì giờ; cái 'crux' là công trình nghiên cứu trên một tập san lừng danh.

      Người thì nói công trình nghiên cứu chẳng có phương pháp gì mới. Nói như thế là đánh tráo khái niệm, bởi vì vấn đề mà nghiên cứu giải đáp không phải là tìm ra phương pháp mới. Nhóm nghiên cứu không hề nói là phương pháp mới gì đâu; họ so sánh hai phương pháp hiện hành (tạm cho là vậy) và kết quả về thụ thai là như nhau. Họ viết rất rõ câu hỏi nghiên cứu là "It is not known whether frozen-embryo transfer results in similar benefit in women with infertility that is not associated with the polycystic ovary syndrome," chứ không nói sáng chế ra cái gì mới. (Nhiều nghiên cứu có mục tiêu so sánh hai thuốc hiện hành, hai loại phẫu thuật hiện hành, hai can thiệp hiện hành, v.v. vẫn có giá trị nhiều so với sáng chế ra cái mới mà chưa chắc ứng dụng được). Một nghiên cứu độc lập bên Tàu cũng có kết quả tương tự và được công bố trên cùng một số của NEJM. Hai nghiên cứu cung cấp “evidence” phẩm chất cao (vì RCT mà) về tương đương giũa hai phương pháp hiện hành về tỉ lệ thụ thai thành công. Như vậy, đó là một đóng góp quan trọng cho evidence based medicine, như ông chủ tịch hiệp hội sản khoa nói trên Reuters (1).

      Người thì nói đây là nghiên cứu "me too", nhưng không nói thế nào là 'me too'. Xin thưa rằng đây không phải là nghiên cứu lặp lại 100% ý tưởng và phương pjáp của nghiên cứu trước đây, nên không nên đánh giá thấp đồng nghiệp bằng chữ 'me too'. Có lẽ người nói câu này không biết rằng NEJM không bao giờ công bố nghiên cứu loại 'me too'. Sao không đọc bài báo trên New York Times khi họ viết "But the research was THE FIRST OF ITS KIND to study fresh versus frozen-embryo transfers in such a large number of non-PCOS patients" (2) mà lại xem thường là 'me too'?

      Người thì có vẻ dành công trạng cho hai vị giáo sư người Úc, nhưng tại sao và dựa vào chứng cứ gì mà nói như thế. Hai giáo sư Úc là những chuyên gia loại thượng thặng và là mentor cho nhóm của Bs Lan. Điều này thì chẳng có gì phải bàn ra tán vào, vì nhóm nghiên cứu ghi nhận sự đóng góp của họ. Hai vị đó cũng như các tác giả khác đều có đóng góp vào sự thành công của nghiên cứu. Họ là những người giám sát nghiên cứu (vì trong RCT phải có giám sát viên) và làm việc chặt chẽ và lâu năm với nhóm nghiên cứu. Hai vị ấy là đồng tác giả của bài báo. Trong khoa học, không ai viết lời cảm tạ đồng tác giả cả. Làm những nghiên cứu qui mô như thế này đòi hỏi tương tác với nhiều chuyên gia, và việc có tên của các đồng nghiệp là bình thường, chứ không hề có ý nghĩa 'không có họ thì mình không thể làm được.'

      Tôi thấy thật là không khéo khi người Việt mình xem thường khả năng của người Việt mình, trong khi một vị chủ tịch hội sản khoa Úc ca ngợi như sau: "It's fantastic that Australian researchers are collaborating with other countries to get high class research coming out of Asia … Health systems in other countries make it more possible to do proper randomised control trials, so it's excellent that we are getting those relationships built up" (3). Những người xem thường đồng nghiệp Việt Nam có lẽ không biết rằng có những nghiên cứu chỉ có thể thực hiện ở Việt Nam bởi vì đó là nơi có chất liệu và bệnh phẩm, và đó chính là lí do tại sao NHMRC của Úc sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để nghiên cứu. Thay vì dèm pha đồng nghiệp Việt Nam thì các bạn nên thử nộp đề cương vào NHMRC để xin tài trợ làm nghiên cứu ở Việt Nam chắc chắn là hay hơn.

      Trong giới nghiên cứu y học, có 3 tập san được xem là 'bible': NEJM, Lancet và JAMA. Không nói ra thì ai cũng biết NEJM là danh giá nhất, uy tín nhất, với chỉ số IF trên 72 thì ngay cả Nature và Science cũng còn thấp hơn. Đối với những người làm nghiên cứu y khoa, có công trình được xuất hiện trên mấy tập san này là niềm vinh hạnh (nhưng cũng là ước mơ), nó như cái ID để nhận dạng đẳng cấp trong giới khoa học. Dĩ nhiên, đa số nhà khoa học, kể cả ở Úc, suốt đời không thể nào có bài trên các tập san này. NEJM chỉ công bố nhữg công trình quan trọng và có tác động đến thực hành lâm sàng, chứ không công bố những công trình mang tính "incremental" đâu. Đôi khi phải có trải nghiệm thực tế với NEJM mới thấy họ rất … chảnh. Không phải có bài là nộp cho họ đâu; phải qua một qui trình sàng lọc trước khi nộp bài. Phải có analysis plan họ mới chấp nhận duyệt bài. Do đó, việc qua lại hơn 10 lần trước khi chấp nhận cho công bố là rất bình thường.

      Trước đây đã có hơn 50 công trình từ VN xuất hiện trên NEJM, nhưng tất cả đều hoặc là do người nước ngoài chủ trì hoặc là tác giả trong nước nhưng người nước ngoài chủ trì. Còn công trình này là hoàn toàn 'thuần Việt', hiểu theo nghĩ tác giả đầu và tác giả chính đều là người Việt, thực hiện ở Việt Nam, mà thực hiện RCT (chứ không phải loại 'làng nhàng'). Có bao nhiêu giáo sư gốc Việt ở nước ngoài có bài trên NEJM? Đếm đầu ngón tay thôi, và cũng chưa chắc là tác giả chính. Tôi có dính dáng với công trình này ở phía hậu trường nên biết những gian nan của nhóm tác giả đã trải qua như thế nào. Họ đáng được khen và khích lệ. Họ đã mở một cái ngoặt cho nghiên cứu y học ở Việt Nam để tiến đến 'tự chủ' thay vì 'lệ thuộc' như hiện nay.

      Tôi ngạc nhiên là đồng nghiệp với nhau mà lại có cái nhìn khá tiêu cực khi đồng nghiệp khác đạt được những thành tự cao quí. Tôi nghĩ những người có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế không một ai có cái nhìn tiêu cực về công trình của nhóm nghiên cứu; chỉ có những người chưa có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học hoặc chưa bao giờ công bố nghiên cứu trên những tập san y khoa hạng 'elite' mới có những cái nhìn phiến diện như trên. Thật là đáng buồn cho văn hoá khoa học ở người Việt Nam.

      =====
      (1)
      https://www.reuters.com/article/us-health-fertility-ivf/thawed-fresh-embryos-work-equally-well-in-many-women-idUSKBN1EZ2VN

      (2)
      https://mobile.nytimes.com/2018/01/10/well/family/fresh-embryos-as-good-as-frozen-ones-for-in-vitro-fertilization.html

      (3)
      http://www.smh.com.au/national/health/frozen-just-as-good-as-fresh-embryo-when-it-comes-to-success-in-ivf-study-shows-20180110-h0g6pn.html
      =====

      Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Tin khác
    • Đọc nhiều