• Vai trò của của dấu hiệu ‘spot’ (spot sign) trong tiên lượng và hiệu quả điều trị bằng yếu tố VIIa tái tổ hợp (rFVIIa) trong chảy máu não tiến triển

      05-03-17, 22:53
      Vai trò của của dấu hiệu ‘spot’ (spot sign) trong tiên lượng và hiệu quả điều trị bằng yếu tố VIIa tái tổ hợp (rFVIIa) trong chảy máu não tiến triển
      Chảy máu não (ICH) chiếm 10 - 30% tất cả các loại đột quỵ, và nó ảnh hưởng tới trên 60.000 người tại Mỹ hàng năm[1]. Kết cục lâm sàng của chảy máu não xấu hơn một cách có ý nghĩa so với đột quỵ tắc mạch não.Tỷ lệ tử vong của chảy máu não thời điểm 30 ngày chiếm tới 50%[2]. Các yếu tố nguy cơ chảy máu não quan trọng ở người cao tuổi phố biến là tăng huyết áp, bệnh mạch máu dạng bột (amyloid angiopathy), và sử dụng thuốc chống đông[3],[4],[5],[6].

      Kích thước khối máu tụ cũng được cho là một trong những yếu tố quan trọng dự báo tử vong thời điểm 30 ngày[7]. Sự tiến triển của khối máu tụ dự báo rất tốt suy thoái thần kinh (neurological deterioration)[8],[9],[10], và là một yếu tố dự báo độc lập nguy cơ tử vong và các kết cục chức năng[11]. Do vậy, việc dự báo được sự tiến triển của chảy máu não trên lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh là hết sức cần thiết để từ đó có thể áp dụng biện pháp điều trị cấp cứu bằng yếu tố VIIa tái tổ hợp (rFVIIa) trong chảy máu não cấp tính[12],[13].

      Chụp cắt lớp vi tính mạch máu (computed tomography angiography/CTA) là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nhanh và không xâm lấn cho bệnh nhân chảy máu não, và đã được chứng minh là hữu ích trong việc xác định các tổn thương có thể điều trị được như phình động mạch não và các tổn thương mạch máu khác. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đã nhận thấy rằng chụp cắt lớp vi tính mạch máu có thể phát hiện được các ổ tổn thương nhỏ tăng tín hiệu hoặc dấu hiệu ‘spot’ (spot sign) trong khối máu tụ có hoặc không có sự thoát mạch thuốc cản quang rõ ràng. Dấu hiệu ‘spot’ (spot sign) đã được chứng minh là có liên quan tới sự tiến triển của khối máu tụ và kết cục lâm sàng kém[14].

      Để kiểm chứng vai trò dự báo sự tiến triển khối máu tụ trong chảy máu não của dấu hiệu ‘spot’ (spot sign) cũng như đánh giá hiệu quả điều trị cấp cứu của yếu tố VIIa tái tổ hợp trong các trường hợp chảy máu não có nguy cơ tiến triển, David Gladstone và cộng sự đã tiến hành các thử nghiệm lâm sàng: The Spot Sign for Predicting and Treating ICH Growth Study (STOP-IT) (ClinicalTrials.gov Identifier: NCT00810888) và "Spot Sign" Selection of Intracerebral Hemorrhage to Guide Hemostatic Therapy (SPOTLIGHT) (ClinicalTrials.gov Identifier: NCT01359202).


      Mặc dù hai thử nghiệm lâm sàng STOP-IT và SPOTLIGHT chưa kết thúc hoặc đã kết thúc nhưng chưa được công bố, nhưng trong Hội nghị Đột quỵ Quốc tế 2017 (International Stroke Conference/ISC 2017), David Gladstone đã cho thấy kết quả nghiên cứu bước đầu khẳng định giá trị của chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA) cấp cứu trong tiên lượng chảy máu não cấp. Nhóm bệnh nhân nghiên cứu có dấu hiệu ‘spot’ (spot sign) trên CTA, thì việc điều trị bằng yếu tố VIIa tái tổ hợp (rFVIIa) không làm thay đổi có ý nghĩa thể tích chảy máu não cuối cùng hoặc các kết cục lâm sàng trong nghiên cứu này, mặc dù gần như tất cả bệnh nhân đều được điều trị hơn 2 giờ sau khởi phát bệnh.

      Tài liệu tham khảo

      1. Broderick J. P., Adams H. P., Jr., Barsan W. et al. (1999). Guidelines for the management of spontaneous intracerebral hemorrhage: A statement for healthcare professionals from a special writing group of the Stroke Council, American Heart Association. Stroke, 30 (4), 905-915.

      2. Broderick J. P., Brott T., Tomsick T. et al. (1992). The risk of subarachnoid and intracerebral hemorrhages in blacks as compared with whites. N Engl J Med, 326 (11), 733-736.

      3. Fewel M. E., Thompson B. G., Jr. and Hoff J. T. (2003). Spontaneous intracerebral hemorrhage: a review. Neurosurg Focus, 15 (4), E1.

      4. Woo D., Sauerbeck L. R., Kissela B. M. et al. (2002). Genetic and environmental risk factors for intracerebral hemorrhage: preliminary results of a population-based study. Stroke, 33 (5), 1190-1195.

      5. Anderson C. S., Chakera T. M., Stewart-Wynne E. G. et al. (1994). Spectrum of primary intracerebral haemorrhage in Perth, Western Australia, 1989-90: incidence and outcome. J Neurol Neurosurg Psychiatry, 57 (8), 936-940.

      6. Itoh Y., Yamada M., Hayakawa M. et al. (1993). Cerebral amyloid angiopathy: a significant cause of cerebellar as well as lobar cerebral hemorrhage in the elderly. J Neurol Sci, 116 (2), 135-141.

      7. Broderick J. P., Brott T. G., Duldner J. E. et al. (1993). Volume of intracerebral hemorrhage. A powerful and easy-to-use predictor of 30-day mortality. Stroke, 24 (7), 987-993.

      8. Leira R., Davalos A., Silva Y. et al. (2004). Early neurologic deterioration in intracerebral hemorrhage: predictors and associated factors. Neurology, 63 (3), 461-467.

      9. Kazui S., Naritomi H., Yamamoto H. et al. (1996). Enlargement of spontaneous intracerebral hemorrhage. Incidence and time course. Stroke, 27 (10), 1783-1787.

      10. Kazui S., Minematsu K., Yamamoto H. et al. (1997). Predisposing factors to enlargement of spontaneous intracerebral hematoma. Stroke, 28 (12), 2370-2375.

      11. Davis S. M., Broderick J., Hennerici M. et al. (2006). Hematoma growth is a determinant of mortality and poor outcome after intracerebral hemorrhage. Neurology, 66 (8), 1175-1181.

      12. Mayer S. A., Brun N. C., Broderick J. et al. (2005). Safety and feasibility of recombinant factor VIIa for acute intracerebral hemorrhage. Stroke, 36 (1), 74-79.

      13. Mayer S. A., Brun N. C., Begtrup K. et al. (2005). Recombinant activated factor VII for acute intracerebral hemorrhage. N Engl J Med, 352 (8), 777-785.

      14. Wada R., Aviv R. I., Fox A. J. et al. (2007). CT angiography "spot sign" predicts hematoma expansion in acute intracerebral hemorrhage. Stroke, 38 (4), 1257-1262.

      Bác sĩ Lương Quốc Chính
      Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Tin khác