Page 1 of 2 12 LastLast
Results 1 to 10 of 16

Thread: Kĩ thuật chọc dịch não tủy

  1. #1
    drvietphuong's Avatar
    drvietphuong is offline Sinh viên Y1
    Giấy phép số
    NT-1244
    Cấp phép ngày
    Dec 2012
    Bệnh nhân
    5
    Cám ơn
    1
    Được cám ơn
    9/5
    Kinh nghiệm khám
    0

    Default Kĩ thuật chọc dịch não tủy

    CHỌC DỊCH NÃO TỦY
    Ths. Bs. Đào Việt Phương
    Khoa Cấp cứu - Bệnh viện Bạch Mai
    Đại cương

    Chọc dịch não tủy là một thủ thuật hay được thực hiện ở các khoa hồi sức và cấp cứu với mục đích chẩn đoán và điều trị. Hiểu rõ về chỉ định, chống chỉ định, kỹ thuật,phát hiện và xử trí biến chứng là cần thiết trước khi thực hiện thủ thuật này.Bài này sẽ nói về chỉ định, kĩ thuật, biến chứng và các lỗi hay mắc khi chọc dịch não tủy.

    Giải phẫu, sinh lý

    Ở người lớn điểm tận cùng của dây tủy thường ngang với mức L1 hoặc L2. Trong khoang não tủy có khảng 150 ml dịch não tủy, có khoảng 500 ml dịch não tủy được sản sinh mỗi ngày, chủ yếu từ đám rối mạch mạc não thất ba (chiếm trên 2/3 lượng dịch não tủy), phần dịch não tủy còn lại có thể được sản sinh từ não thất 3,4 màng não và não.

    Tính chất dịch não tủy

    Màu sắc Trong
    Khối lượng 130 mL
    Tốc độ sản sinh 0.5 mL/min
    Áp lực (theo tư thế nằm nghiêng) 60 – 150 mm H2O
    Sinh hóa
    Protein 15 – 45 mg/100 mL
    Glucose 50 – 85 mg/100 mL
    Chloride 720 – 750 mg/100 mL
    Tế bào 0 – 3 lymphocytes/cu. mm.

    CHỈ ĐỊNH

    Gồm có 2 chỉ định chính: chẩn đoán và điều trị

    Chẩn đoán:

    Nhiễm khuẩn thần kinh: viêm màng não do virus, vi khuẩn, nấm, viêm não
    Chẩn đoán xuất huyết dưới nhện
    Chẩn đoán một só tình trạng viêm hệ thống: Xơ cứng rải rác, Guillain-Barre, bệnh Devic, neurosarcoidosis.
    Chấn đoán khối u màng não
    Chẩn đoán một số rối loạn chuyển hóa

    Điều trị:

    Một số thủ thuật đòi hỏi vô cảm vùng dưới cơ thể
    Điều trị kháng sinh hoặc hóa chất
    to aid in radiologic imaging procedures (cysternography or myelography)
    to diagnose meningeal carcinomatosis
    to diagnose meningeal carcinomatosis

    CHỐNG CHỈ ĐỊNH

    Có một vài chống chỉ định của chọc dịch não tủy Rối loạn đông máu là một chống chỉ định quan trọng vì chọc dịch não tủy có thể gây tụ máu ngoài màng cứng gây chèn ép tủy. Không có nghiên cứu nào nói về diểm giưới hạn của đông máu , nhưng INR > 1,4, partial thromboplastin time (aPTT) > 50, và/hoặc tiểu cầu < 100.000/mm3 cần được điều chỉnh bằng truyền plasma tươi đông lạnh và/hoặc truyền tiểu cầu trước khi làm thủ thuật. Khi có rối loạn ý thức, phù gai thị, thiếu hụt thần kinh hoặc nghi ngờ xuất huyết dưới nhện thì nên chụp CT-Scanner sọ trước khi chọc dịch não tủy. Không chọc dịch não tủy khi có dấu hiệu thoát vị não hoặc đè đẩy hố sau vì áp lực giảm khi rút dịch não tủy có thể gây tụt kẹt nhân não.

    Những chống chỉ định khác bao gồm nhiếm khuẩn vùng da chọc dò, u tủy sống và mới phẫu thuật cộ sống. Trước khi làm thủ thuật, phải được sự chấp thuận theo đúng mẫu của từng nơi.

    KĨ THUẬT

    Dụng cụ:

    Kim vô khuẩn 20 gauge hoặc nhỏ hơn để chọc dịch, xylanh và kim 25 gauge để gây tê tại chỗ, dung dịch sát khuẩn, gạc và ga vô khuẩn, dung dịch lidocain 1% tới 2%, máy đo áp lực, găng phẫu thuật vô khuẩn, ống lấy dịch xét nghiệm. Theo kinh nghiệm thì dung kim nhỏ giúp giảm đau đầu sau chọc dịch não tủy hơn. Với bệnh nhân béo phì thì có thể cần dung kim dài hơn kim chuẩn 3,5 inches.

    Tư thế bệnh nhân

    Nằm nghiêng giúp đo áp lực dịch não tủy chính xác. Vị trí bệnh nhân nằm sao cho vai và hông vuông góc với mặt giường, lưng song song với thành giường, và bệnh nhân nằm co với gối và cằm gập ra trước. Trong trường hợp khác có thể để bệnh nhân ngồi, tư thế ngồi có thể giúp xác định đường giữa của cột sống, tăng khoảng cách giữa các khe đốt sống, tăng khả năng lấy được dịch não tủy vì vậy tăng khả năng chọc dịch não tủy thành công. Ở vị trí này lưng bệnh nhân thẳng và hướng ra ngoài, đồng thời cằm gập sâu xuống ngực. Cuối cùng, việc lựa chọn tư thế bệnh nhân phụ thuộc chỉ định chọc dịch não tủy, sự thoải mái của bệnh nhân và kinh nghiệm của bác sỹ.

    Xác định khe đốt sống L4-5

    Ở hầu hết người trưởng thành thì tủy sống tận cùng ở L1, một vài người trẻ thì tận cùng ở L2. Do đó, khe liên đôt L3-4, L4-5, L5-S1 là vị trí chọc dịch não tủy an toàn. Hầu hết người trưởng thành thì khe L4-5 ngang mức với đường nối hai mào chậu trên (Tuffier line). Chọn khe đốt sống ngay trên hoặc dưới đường Tuffer line. Chú ý vị trí vuông góc sẽ giúp chọc kim chọc dịch chính xác.

    Sát khuẩn và gây tê vị trí chọc

    Sát khuẩn vị trí chọc với dung dịch sát khuẩn (chlorhexidine hoặc betadine…). Sử dụng găng vô khuẩn đặt ga vô khuẩn ở vị trí chọc. Lidocain gây tê dưới da và sâu 2 cm dọc theo đường chọc dịch.

    Đưa kim chọc dịch não tủy

    Kim chọc dịch não tủy với nòng thông được đưa chếch với mặt da 15 độ hướng về phía đầu hoặc rốn. Kim phải được đưa vào đường giữa và vuông góc với mặt phẳng lưng. Kim nên được đưa vuông góc với trục cơ thể nhằm giảm tối thiểu rách màng cứng và đau đầu sau chọc dịch não tủy.

    Đưa kim vào khoang não tủy

    Sau khi kim đi qua da và tổ chức mỡ dưới da, kim sẽ đi qua dây chằng trên đốt sống và dây chằng liên đốt sống, dây chằng vàng, khoang ngoài màng cứng và cuối cùng là màng cứng. Khi đi chệch đường giữa có thể gây đau dữ dội. Khi đưa kim vào sâu khoảng 3 cm tới 4 cm hoặc khi thấy hẫng tay, rút nòng thông ra xem dịch não tủy có chảy qua kim không. Nếu không có dịch não tủy, lắp lại nòng thông, đưa kim vào 2 – 3 mm sau đó rút nòng thông ra kiểm tra lại. Khi dịch não tủy chảy ra ngoài có thể lắp lại nòng thông để hạn chế dịch não tủy thoát ra ngoài cho đến khi lắp máy đo áp lực dịch não tủy. Ấn xương trong khi đưa kim vào để tránh đưa kim sai góc hoặc chệch đường giữa. Khi kim đi chệch hướng, rút kim ra tới tổ chức dưới da, đưa kim hướng lên phía đầu 150 hoặc ít hơn và đi đúng đường giữa, sau đó đưa kim vào lại. quá trình náy có thể tiến hành lại vài lần cho đến khi đi qua được xương. Sau vài lần chọc ở vị trí đầu tiên không thành có thể chọc tại khe L3-4 (vị trí trên đường Tuffier line), nhưng ở vị trí cao hơn có thể gây tổn thương đuôi tủy sống.

    Khi kim vào tới khoang não tủy mà không thấy dịch não tủy chảy ra. Để khắc phục vấn đề này thì nên dung kim đủ dài, chắc chắn kim đưa đúng vị trí và đúng góc đồng thời có thể để bệnh nhân ngồi dậy. Chọc dịch não tủy với màn huỳnh quang có thể cần thiết ở những bệnh nhân béo phì hoặc không hợp tác.



    CHỌC DỊCH NÃO TỦY ĐƯỜNG BÊN

    Chọc DNT đường bên thường được áp dụng để tránh sự vôi hóa của dây chằng liên đốt sống và trên đốt sống mà thường gặp ở người già. Tư thế có thể bệnh nhân nằm nghiêng hoặc ngồi. Đây là một kỹ thuật thường ít được sử dụng hơn so với đường giữa, nhưng là một phương án tốt khi đường giữa thất bại.

    Lựa chọn vị trí bệnh nhân và vị trí chọc, vị trí chọc cách đường giữa khoảng 1,5 – 2 cm. có thể chọc bên trái hoặc bên phải nêu tư thế ngồi, trên hoặc dưới khi tư thế nằm nghiêng. Đưa kim hướng lên phía đầu khoảng 10o và hướng về phía đường giữa 200. Góc kim này sẽ đưa kim trực tiếp qua cơ dựng cột sống và bên cạnh dây chằng liên đót sống và trên đốt sống. Kim sẽ đi qua dây chằng vàng, màng cứng và khoang dưới nhện.

    Đo áp lực dịch não tủy và thu thập mẫu xét nghiệm

    Khi đặt kim vào khoang dịch não tủy, có thể đo áp lực dịch não tủy “mở” bằng máy đo áp lực. Áp lực chỉ được đo chính xác ở tư thế nằm nghiêng và bệnh nhân thật thư giãn để tránh ảnh hưởng của hô hấp. Bình thường, áp lực từ 8 tới 22 cm H2O, mặc dù ở người béo phì thì có thể cao hơn. Dịch não tủy nên được thu thập để xét nghiệm. Số lượng dịch não tủy nên được thu thập đủ để làm các xét nghệm cần thiết và có thể cho cả các xét nghiêm sâu hơn khi cần. Nếu áp lực “mở” > 50 cm H2O, thu thập số lượng dịch não tủy mức tối thiểu. Dịch xét nghiệm được liệt kê ở bảng dưới. Khi dịch não tủy đầu tiên có máu sau đó hết gợi ý bị chạm ven. Khi dịch màu vàng hoặc ánh vàng có thể do thoái hóa máu 12 tới 24 giờ hoặc tăng protein. Lắp lại nòng thông trước và sau khi lấy dịch não tủy tránh mất dịch não tủy quá nhiều. Sau khi lấy được dịch não tủy có thể đo áp lực “kín”. Lắp lại nòng thông trước khi rút bỏ kim.
    • Tế bào
    • Sinh hóa: Protein, Glucose
    • Nhuộm Gram, cấy vi khuẩn, nấm, và vi khuẩn nội bào
    • Tế bào học và wet mount inspection
    • Quang phổ học cho xanthochromia
    • IgG và Albumin và IgG và Albumin của máu để tính chỉ số IgG:
    • (DNT-IgG/DNT-albumin)/(máu-IgG/máu-albumin)
    • Phân tích band immunoglobulin (Oligoclonal bands)
    • PCR cho HSV, VZV, EBV, CMV, enteroviruses, TB, arboviruses và Toxoplasmosis
    • Các xét nghiệm khác chẩn đoán: giang mai (VDRL hoặc FTA-ABS), cysticercosis, sán, Histoplasmosis, coccidiodpmycosis và sốt rét.
    IgG: immunoglobulin G, PCR: Polymerase chain reaction, HSV Herpes simplex vius, VZV: varicella-zoster vius, EBV: Epstein-Barr vius, CMV: cytomegalovirus, TB: tuberculosis, VDRL: Venereal Disease Research Laboratory, FTA-ABS: Fluorescent Treponemal Antibody-absorption.

    Biến chứng

    Ngay sau khi chọc dịch não tủy, bệnh nhân nên nằm ngửa một giờ. Điều này giúp giảm đau đầu ngay sau chọc dịch não tủy, nhưng có thể không tránh được đau đầu sau chọc dịch não tủy do rách màng cứng hoặc rò rỉ dịch não tủy. Sau đó, việc chọn kim thích hợp và kĩ thuật hợp lý có thể giảm biến chứng này. Dịch, caffeine, acetaminophen, và các thuốc giảm đau không steroid (NSAIDs) có hiệu quả trong trường hợp đau đầu sau chọc dịch não tủy. Đau đầu tăng khi ngồi dậy hoặc đứng dậy và giảm khi nằm là đặc điểm đặc trưng của đau đầu sau chọc dịch não tủy.

    Hiếm khi, bệnh nhân bị tê bì hoặc đau một chân. Trong khi làm thủ thuật, rút kim chọc dò ra khi kim chọc vào rễ thần kinh, chỉnh lại vị trí và xác điịnh lại đường giữa sau đó chọc lại. Chọc kim từ từ và cẩn thận tránh tổn thương thần kinh. Khi có triệu chứng này hoặc triệu chứng ép rễ tủy xuất hiện sau thủ thuật có thể liên quan đến u tủy dạng biểu bì hoặc tụ máu dưới màng cứng. Trong cả hai trường hợp thì cộng hưởng từ sọ não hoặc chụp cắt lớp vi tính có nhiều lợi ích và có thể cần phải phẫu thuật thần kinh khi phát hiện có khối trong tủy.

    Các biến chứng khác bao gồm thoát vị não, tổn thương các động mạch dị dạng dưới nhện là những biến chứng rất hiếm gặp và có thể tránh được nhờ khám lâm sàng cẩn thận và khi chỉ định thì nên chụp sọ não trước khi chọc dịch não tủy.

    PHÂN TÍCH DỊCH NÃO TỦY

    Màu sắc dịch não tủy

    Để đánh giá màu sắc dịch não tủy tốt nhất phải so sánh các ống chứa dịch DNT với ống chứng chứa nước cất trên nền màu trắng, nhìn từ trên xuống và dưới ánh sang tự nhiên tốt hơn ánh sang đèn.
    Bình thường dịch não tủy trong suốt, không màu. Trong xuất huyết dưới nhện màu dịch não tủy phụ thuộc vào sản phẩm thoái hóa của hồng cầu: Oxyhemoglobin (đỏ), Bilirubin (vàng), và methemoglobin (nâu), dung máy đo mật độ quang có thể phát hiện các thành phần này trong dịch não tủy. Dịch não tủy màu đỏ phải phân biệt giữa chạm ven và xuất huyết dưới nhện, để phân biệt trong trường hợp này người ta làm nghiệm pháp 3 ống, nếu xuất huyết dưới nhện thì 3 ống đỏ như nhau, không đông và xét nghiệm hồng cầu như nhau, nếu chạm ven thì màu của các ống sẽ nhạt dần, có thể đông và só lượng tế bào sẽ giảm dần. Khi ly tâm dịch não tủy, trong xuất huyết dưới nhện phần dịch phía trên sẽ màu vàng do thoái hóa hồng cầu, còn khi chạm ven thì phần dich ở trên trong suốt, không màu.

    Dịch não tủy vàng có thể gặp trong tăng protein, hiếm khi vàng da nặng, tăng carotene máu, đang dung rifampicin… hoặc vàng chanh do viêm màng não do lao. Dịch đục thường do viêm màng não mủ.

    Áp lực dịch não tủy

    Bình thường áp lực dịch não tủy từ 60 – 150 mmH2O (tư thế nằm), hô hấp, tuần hoàn có ảnh hưởng tới áp lực DNT. Ho, gắng sức, ép bụng sẽ làm tăng áp lực DNT. Áp lực DNT giảm (< 50mm H2O) gặp khi có tắc nghẽn lưu thông DNT, mất nước, dò DNT, Kim chọc dò chưa vào hẳn khoang dưới nhện, giảm áp lực nội sọ tự phát… Áp lực DNT tăng (>200 mmH2O) gặp trong: khối choán chỗ nội sọ, phù não, nhiễm trùng não, màng não, tai biến mạch não cấp, viêm tắc tĩnh mạch não, tăng áp lực nội sọ lành tính, suy tim, suy hô hấp…

    Một số nghiệm pháp:

    Nghiêm pháp Queckenstedt: ép tĩnh mạch cảnh 2 bên, bình thường áp lực DNT sẽ tăng thêm nhanh chóng từ 100 – 200 mmH2O và trở về bình thường trong vòng 10 giây khi không ép nữa. Nghiệm pháp âm tính khi có tắc nghẽn lưu thông DNT ở tủy sống.

    Nghiệm pháp Stockey: Ép tĩnh mạch chủ bụng, đáp ứng tương tự như trên. Nghiệm pháp dương tính khi có tắc nghen lưu thông DNT ở vùng thắt lưng.

    TẾ BÀO

    Bình thường 1 mm3 DNT có ít hơn 5 tế bào bạch cầu, không có hồng cầu. Tăng bạch cầu trong DNT là đặc trưng của bệnh thuộc thần kinh trung ương hoặc màng não. Tăng bạch cầu ái toan có thể gặp trong nhiễm ký sinh trùng. Gặp tế bào ác tính trong một số ung thư hệ TKTW như u màng não. Chảy máu dưới nhện thì sự có mặt của máu trong DNT gây phản ứng viêm thứ phát dẫn đến tăng bạch cầu, rõ nhất sau 48 giờ.

    PROTEIN

    Bình thường dịch não tủy từ 0.,15 – 0,5 g/l. Tăng Protein trong dịch não tủy thường do các bệnh lý tại màng não, màng ống nội tủy, não thất hoặc gần đó cũng như ở não, tủy sống, và rễ thần kinh gây phá vở hàng rào máu – não, tăng tính thấm tế bào nội mạc. Tăng protein hay gặp trong viêm màng não, tắc nghẽn lưu thông DNT (như u tủy), u não, nhất là u cạnh não thất, bệnh đa rễ thần kinh, bệnh rễ thần kinh trong đái tháo đường, phù niêm… Khi chạm mạch máu thì protein cũng tăng lên cùng tế bào theo tỷ lệ tăng 1000 hồng cầu làm tăng 1 mg protein. Giảm protein trong DNT có thể gặp trong dò DNT sau chọc dịch hoặc sau chấn thuwowg rách màng cứng, cường giáp, giả u não..,.

    GLUCOSE

    Glucose bình thường từ 1,8 – 4,5 mmol/l bằng khoảng 60 – 70% đường máu, khi đường máu tăng, tỉ lệ này có thể giảm xuống 50 -60%, ngược lại khi đường máu giảm thì tỉ lệ này có thể tăng lên tới 85%,vì vậy quan trọng là định lượng đường máu và đường trong DNT cùng thời điểm. Đường DNT giảm gặp trong viêm màng não mủ, viêm màng não do lao, nấm, kén sán não, amips, giang mai cấp, hóa chất, sarcoidose, viêm mạch… Viêm não màng não do virus thường đường DNT không giảm, nhưng cũng có thể giảm trong viêm não, màng não do quai bị, herpes. Viêm màng não thì đường DNT giảm thường kèm theo tăng lactate do chuyển hóa đường yếm khí. Giảm đường DNT kèm theo giảm lactate thường do suy giảm vận chuyển glucose qua hàng rào máu não.

    CLORUA

    Bình thường 120 – 130 mmol/l. Giảm Clorua gặp trong viêm màng não lao và bình thường trong viêm màng não tăng lympho, viêm não.

    MỘT SỐ XÉT NGHIỆM KHÁC

    Phản ứng Pandy: dương tính thường gặp trong viêm màng não.
    Các phản ứng với các kháng nguyên của vi khuẩn, nấm đặc hiệu
    Phản ứng huyết thanh chẩn đoán giang mai: VDRL va RPR
    Xét nghiệm PCR trong chẩn đoán lao, Herpes, CMV
    Xét nghiệm trực tiếp: soi tươi hay nhuộm có thể thấy VK, nấm. Nuôi cấy, phân lập vi khuẩn, virus.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO:

    1. Đại học Y Hà Nội (2005), Bộ môn Thần Kinh, Triệu chứng học Thần Kinh, “Chọc dịch não tủy”, pp162 – 169.
    2. The Washington Manual of Critical care, “Lumbar puncture”, pp 502 – 506”.
    3. Emergency Medicine Procedures, “Lumbar puncture”.
    4. Miles S. Ellenby et, “Lumbar puncture”, Videos in clinical medicine, Nejm(2006).

  2. The Following 2 Users Say Thank You to drvietphuong For This Useful Post:

    drhoanghai (18-12-12),iamnotvip (07-04-13)

  3. #2
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Thực ra chọc dịch não tuỷ không khó mà cũng chẳng dễ. Hình như chẳng có ai dám nói mình bách phát bách trúng. Thế nhưng chẳng thấy các bác chia sẻ những gì đã trải qua để cho mọi người học được đến đâu thì học. Chúng tôi xin chia sẻ dần dần, có gì trái tai mong các bác góp ý ngay.
    Trong chuyên ngành Lây hay phải chọc dịch não tuỷ cho bệnh nhân sốt có đau đầu. Nhiều bệnh nhân trong tình trạng sảng, không thể nằm yên, chứ chưa nói gì đến chuyện châm chọc. Dùng các loại thuốc an thần hầu như không thấy đáp ứng. Kinh nghiệm trong những trường hợp này là xem có bí đái hay không để đặt thông tiểu trước thủ thuật chọc dịch não tuỷ.

  4. The Following User Says Thank You to drthai For This Useful Post:

    pcp (01-04-14)

  5. #3
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Nói về chuyện tư thế bệnh nhân. Hồi còn là sinh viên chúng tôi vẫn phải phụ giúp bác sĩ bằng cách giữ ghì bệnh nhân. Người giữ một tay vít gáy, một tay vít mông, một đầu gối tì vào bụng bệnh nhân. Gặp những trường hợp bệnh nhân khác giới mà vùng vẫy nhiều thì dở khóc dở cười. Có lẽ bây giờ thì đỡ hơn ngày trước, nhưng cách giữ thúc đầu gối vào bụng không còn được khuyến cáo nữa. Tương tự như vậy, các nghiệm pháp QS cũng không còn được đề cập đến nữa.

  6. #4
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Lựa chọn kim chọc, trước đây mọi người hay thích chọc kim to, kiểu như kim đốc hồng (cỡ 18), kim to khoẻ, đâm mạnh dứt khoát, dịch chảy nhanh... Nhưng thực tế kim to chọc đau hơn, tổn thương phần mềm nhiều hơn và hình như dễ chạm vein hơn. Có lẽ nên chọc kim đốc vàng (cỡ 20) là vừa phải. Kim cỡ nhỏ hơn khó chọc do mềm quá, nhất là khẩu kính lại nhỏ không dễ dàng với mục đích chọc dò phục vụ chẩn đoán.

  7. #5
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Đo áp lực dịch não tuỷ không có máy móc gì phức tạp. Thực ra chỉ là cái ống có chia vạch mm, kèm khoá chạc ba gắn vào đốc kim sau khi đã thấy dịch chảy ra. Dịch dâng lên trong ống để thẳng đứng được bao nhiêu mm thì áp lực (opening pressure) của nó là bấy nhiêu mm. Để tránh nhiễm trùng ngược dòng thì ống đo vô khuẩn chỉ dùng một lần.
    Hay gặp ước tính hoặc đo áp lực dịch sai là khi kim thập thò, hoặc sau khi đưa kim vào ống sống không quay mặt vát về phía mông bệnh nhân. Truyền thống hay truyền khẩu cách ước tính áp lực dịch theo số giọt trong mỗi phút nhưng hoàn toàn chỉ là ước tính.

  8. #6
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Khi đưa kim vào ống sống, mặt vát của kim nên quay hướng về đâu. Ít người quan tâm vấn đề này, nhưng sách vở dạy rằng mặt vát nên quay hướng về phía bên sườn bệnh nhân, tức là nếu bệnh nhân ở tư thế nằm thì mặt vát hướng lên trên hoặc quay xuống dưới. Đó là vì các sợi chun cấu trúc màng cứng chạy song song từ phía đầu đến đuôi. Đưa kim như vậy hy vọng chỉ lách qua, chứ không cắt đứt các sợi này, hy vọng giúp hạn chế tối đa tổn thương màng cứng.

  9. The Following User Says Thank You to drthai For This Useful Post:

    iamnotvip (07-04-13)

  10. #7
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Có thể khống chế chuyện chọc chạm vein không? Nhiều người chọc dịch có tâm lí bực bội khó chịu lắm lắm, kiêng cữ mãi mới được hôm tay thơm để chọc, thấy dịch chảy ra hí hửng lắm, đâu ngờ nó lừ lừ hồng dần rồi đỏ rõ. Câu hỏi đặt ra là liệu có sai ở đâu để tránh được không? Có hoàn toàn là may rủi không?
    Thực ra với trường hợp chọc đi chọc lại đến nát lưng rồi thì chuyện chạm vein này hoàn toàn dễ hiểu. Một sơ suất hay gặp, thường với bác sĩ ít kinh nghiệm, là đưa kim quá mạnh bạo. Mặt trước ống sống là mạng lưới mạch máu dày đặc, còn mặt sau thì chủ yếu là mô xơ sợi. Kinh nghiệm truyền khẩu là đưa kim vào thấy hẫng tay là được, nhưng phải biết dừng ngay, vì đưa kim quá tay sang phía bên kia ống sống sẽ đâm vào các mạch máu gây chạm vein.
    Nếu hẫng tay mà dịch vẫn chưa ra thì xoay nhẹ kim theo chiều kim đồng hồ, thăm dò từng mm một. Chú ý luôn phải lắp lại nòng kim cho khít khi đẩy kim tiến thêm. Bất kỳ khi nào có cảm giác chạm xương cũng đều nên đi lại hướng khác từ đầu.

  11. #8
    psydoc's Avatar
    psydoc is offline Sinh viên Y3
    Giấy phép số
    NT-272
    Cấp phép ngày
    Sep 2012
    Bệnh nhân
    74
    Cám ơn
    9
    Được cám ơn
    18/16
    Kinh nghiệm khám
    5

    Default

    Nghe cách bác Thái nói, em cứ tưởng tượng ra một cổ nhân nào đang viết lại những kinh nghiệm bí truyền vào sách vở để lưu truyền hậu thế. Tò mò về bác ở ngoài đời một chút xíu ạ
    Đi lang thang trong sân có con gà có con gà

  12. #9
    botruong's Avatar
    botruong is offline Sinh viên Y2
    Giấy phép số
    NT-188
    Cấp phép ngày
    Aug 2012
    Bệnh nhân
    41
    Cám ơn
    3
    Được cám ơn
    10/10
    Kinh nghiệm khám
    4

    Default

    Quote Originally Posted by psydoc View Post
    Nghe cách bác Thái nói, em cứ tưởng tượng ra một cổ nhân nào đang viết lại những kinh nghiệm bí truyền vào sách vở để lưu truyền hậu thế. Tò mò về bác ở ngoài đời một chút xíu ạ
    Đổi chữ một chút: một quái nhân đang viết lại những kinh nghiệm cổ truyền
    Life's What You Make it

  13. #10
    drthai's Avatar
    drthai is offline Sinh viên Y5 Thành viên sáng lập
    Giấy phép số
    NT-16
    Cấp phép ngày
    Jun 2012
    Bệnh nhân
    300
    Cám ơn
    4
    Được cám ơn
    104/75
    Kinh nghiệm khám
    10

    Default

    Lại nói về chuyện lấy bao nhiêu dịch là đủ. Chị em điều dưỡng thạo điều này, tay khư khư ba ống, miệng lẩm nhẩm đếm căn mỗi ống 60 giọt... Nhưng chuyện này tuỳ thuộc vào bệnh nhân.
    Nếu chỉ chọc thăm dò thấy áp lực không tăng thì là như vậy. Nhưng nếu áp lực tăng, mà lại nghi ngờ viêm màng não các thể loại thì có thể lấy dịch nhiều hơn, có thể lấy cho khi nào dịch chảy ra có cảm giác gần về mức bình thường thì thôi. Một mặt dịch lấy ra nhiều gửi xét nghiệm vi sinh mới có thể dễ dàng phân lập mầm bệnh, mặt khác trong một số trường hợp tháo bớt dịch não tuỷ giúp giảm áp lực nội sọ, chẳng hạn như viêm màng não do cryptococcus.
    Nhớ ngày xưa có vị thấy dịch chảy ra liu riu, sốt ruột lắp bơm tiêm vào để hút, bây giờ nhớ đến còn thấy kinh.

Page 1 of 2 12 LastLast

LinkBacks (?)

  1. 30-12-12, 08:54
  2. [B
    Refback This thread
    17-12-12, 17:46

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •