Results 1 to 1 of 1

Thread: Cách viết một bài báo cáo khoa học

  1. #1
    Trần Thế Viện's Avatar
    Trần Thế Viện is offline Sinh viên Y4
    Giấy phép số
    NT-3939
    Cấp phép ngày
    Aug 2013
    Thường ở
    Hồ Chí Minh City
    Bệnh nhân
    169
    Cám ơn
    10
    Được cám ơn
    173/108
    Kinh nghiệm khám
    22

    Default Cách viết một bài báo cáo khoa học

    CÁCH VIẾT MỘT BÀI BÁO CÁO KHOA HỌC

    Mục tiêu của việc viết bài báo khoa học là truyền đạt thông tin về một vấn đề khoa học đến các đồng nghiệp, và những phương pháp hay cách tiếp cận để giải quyết vấn đề .

    Tựa đề (title) bài báo
    Tựa đề bài báo được viết trên trang đầu, thường ở vị trí trung tâm. Không nên gạch đích hay viết nghiêng tựa đề. Phía dưới tựa đề bài báo là tên tác giả và nơi làm việc của từng tác giả.
    Tựa đề không nên quá ngắn, nhưng cũng không nên quá dài, mà phải nói lên được nội dung chính của nghiên cứu. Nếu tựa đề không nói lên được nội dung bài báo, độc giả sẽ không chú ý đến công trình nghiên cứu. Một số lưu ý khi viết tựa bài:
    Không bao giờ sử dụng viết tắt: Vì họ không quen hay không biết đến những chữ viết tắt chuyên ngành.
    Không nên đặt tựa đề theo kiểu nghịch lí hay tựa đề mơ hồ. Tựa đề nghịch ló và mơ hồ rất nguy hiểm, vì nó biểu hiện nghiên cứu của bạn chẳng giải quyết được vấn đề gì, hay chẳng có câu trả lời gì, và do đó người đọc có thể nghĩ sẽ rất phí thì giờ để đọc bài báo.
    Không nên đặt tựa đề dài. Tựa đề bài báo không nên dài hơn 20 từ. Tựa đề dài có thể làm cho người đọc mất chú ý.
    Tựa đề bài báo nên có yếu tố mới.Yếu tố mới lúc nào cũng có hiệu quả thu hút sự chú ý của người đọc.
    Không nên đặt tựa đề như là một phát biểu.
    Vì tựa đề bài báo được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu, nên khi đặt tựa đề cần phải để ý đến những từ khóa (keywords).

    Nội dung một bài báo khoa học
    Dẫn nhập (introduction)
    Phương pháp (methods)
    Kết quả (results), và bàn luận (discussion). Cấu trúc này được gọi tắt là cấu trúc IMRAD.
    Tuy nhiên, mỗi bài báo khoa học lúc nào cũng có phần tóm lược (abstract): Tóm tắt các khía cạnh chính của một công trình nghiên cứu hay một bài báo.

    I.Tóm lược (Abstract)
    Có 2 loại tóm lược: không có tiêu đề và có tiêu đề.
    Loại tóm lược không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu.
    Loại tóm lược có tiêu đề -- như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results, và Conclusions. Bản tóm lược phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:
    Câu hỏi và mục đích của nghiên cứu. Phần này phải mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra sao và mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn, rõ ràng.
    Phương pháp nghiên cứu. Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ (risk factors), chỉ tiêu lâm sàng (clinical outcome). Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.
    Kết quả. Trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu. Lưu ý kết quả phải trả lời được câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.
    Kết luận. Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu.
    Nếu tựa đề bài báo phát biểu về nội dung của công trình nghiên cứu, thì bảng tóm lược cho phép bạn mô tả chi tiết hơn nội dung của công trình nghiên cứu.
    Độ dài của bảng tóm lược thường chỉ 200 đến 300 từ (tùy theo qui định của tập san). Bảng tóm lược giúp người đọc nên đọc tiếp bài báo hay bỏ qua bài báo.
    Do đó, tác giả cần phải cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, nhưng có dữ liệu và đi thẳng vào vấn đề . Thông thường bảng tóm lược được viết sau khi đã hoàn tất bài báo.

    II.Dẫn nhập (introduction): Phần dẫn nhập phải cung cấp những thông tin sau đây:
    (a) Định nghĩa vấn đề.
    b) Những gì đã được làm để giải quyết vấn đề.
    (c) Tóm lược những kết quả trước đã được công bố trong y văn.
    (d) Mục đích của nghiên cứu này là gì.
    Trong phần dẫn nhập, cần nêu cho được tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu. Để nêu tầm quan trọng, nên trình bày những thông tin như tần số của bệnh (prevalence) trong cộng đồng, hệ quả của bệnh đến nguy cơ tử vong, tăng nguy cơ mắc các bệnh khác (biến chứng), ảnh hưởng của bệnh đến nền kinh tế nước nhà, giảm chất lượng cuộc sống.
    Cần trình bày những thông tin cơ bản để cho người đọc nắm được vấn đề, ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, và hiểu mục tiêu của công trình nghiên cứu. Chỉ nên trình bày những thông tin có liên quan trực tiếp đến vấn đề, chứ không nên điểm qua những thông tin gián tiếp.
    Khi điểm qua y văn, nên giới hạn trong những nghiên cứu đã công bố trong vòng 5 năm trở lại đây, tránh những nghiên cứu đã trên 20 năm hay tránh những thông tin trong sách giáo khoa vì có thể những thông tin như thế không còn phù hợp nữa. Cách viết : Cần phải chú ý
    (a) Không nên viết quá dài. Viết quá dài rất dễ làm cho người đọc sao lãng vấn đề chính, và có khi làm mất thì giờ người đọc phải đọc những thông tin không cần thiết.
    b) Không nên điểm qua y văn theo kiểu viết sử. Vì phần lớn những người đọc bài báo là đồng nghiệp đã có một số kiến thức cơ bản.
    (c) Phần dẫn nhập phải nói lên mục đích nghiên cứu.
    (d) Về văn phạm, phần dẫn nhập nên viết bằng thì quá khứ, nhất là khi mô tả những kết quả trong quá khứ.

    III.Phương pháp (Methods)
    Phần phương pháp nghiên cứu là phần quan trọng nhất trong một bài báo khoa học. Khoảng 70% bài báo khoa học bị từ chối chỉ vì phương pháp nghiên cứu không thích hợp hay sai lầm.
    Trong phần phương pháp, phải trả lời cho được câu hỏi: "tác giả đã làm gì” (What did you do?) Để trả lời câu hỏi này, tác giả phải cung cấp thông tin về thiết kế nghiên cứu, bệnh nhân (hay đối tượng nghiên cứu), phương pháp đo lường, độ tin cậy và chính xác của đo lường, phương pháp phân tích dữ liệu. Do đó, phần phương pháp nghiên cứu có thể có những tiêu đề nhỏ như sau:
    Thiết kế nghiên cứu (study design). Phát biểu ngằn gọn về mô hình nghiên cứu. Đối tượng (Participants). Thông tin về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng để người đọc có thể đánh giá khả năng khái quát hóa của công trình nghiên cứu. Khi mô tả đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn và tiêu chuẩn loại. Đôi khi tác giả cần phải các biến số quan trọng như độ tuổi, giới tính, sắc tộc, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe.
    Địa điểm và bối cảnh nghiên cứu (setting). Cần cung cấp thông tin về địa điểm được thực hiện, nơi thu thập, vì địa điểm có thể ảnh hưởng đến tính hợp lí của kết quả nghiên cứu.
    Các bước nghiên cứu : Phải tóm lược từng bước nghiên cứu. Việc phân nhóm trong nghiên cứu, chi tiết về can thiệp hay điều trị (nếu có). Nếu công trình có liên quan đến ngẫu nhiên hóa, tác giả cần phải mô tả cụ thể qui trình ngẫu nhiên hóa (randomization) như thế nào, kĩ thuật gì đã được sử dụng để đảm bảo các nhóm cân đối, v.v…Mô tả kĩ thuật đo lường được sử dụng trong nghiên cứu, như tên của máy, model gì, software phiên bản nào, và nơi sản xuất. Cần phải mô tả điều kiện (nhiệt độ, ánh sáng) trong khi đo lường, cũng như các hệ số về độ tin cậy và độ chính xác của kĩ thuật đo lường.
    Cỡ mẫu (Sample Size). Thông thường, các nghiên cứu randomized controlled trial (RCT) phải có một câu văn mô tả cách tính cỡ mẫu, những giả định đằng sau cách tính cỡ mẫu. Điều này quan trọng, vì qua giả định, người đọc có thể đánh giá khả năng mà công trình nghiên cứu có thể giải quyết câu hỏi đặt ra trong phần dẫn nhập.
    Ngẫu nhiên hóa (Randomization). Trong các công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial hay RCT), bệnh nhân thường được phân nhóm một cách ngẫu nhiên. Có nhiều cách phân nhóm bằng máy tính và thuật toán, cho nên phải mô tả rõ phương pháp phân nhóm để người đọc có thế đánh giá chất lượng của nghiên cứu. Nếu cách phân nhóm có hiệu quả thì kết quả thường cho thấy các nhóm rất tương đương về các đặc tính lâm sàng.
    Mã hóa (còn gọi là Blinding): Trong các công trình RCT, có khi cả bác sĩ điều trị và bệnh nhân đều không biết bệnh nhân mình (hay mình) nằm trong nhóm nào của nghiên cứu. Đây là một biện pháp nhằm tăng tính khách quan khi đánh giá hiệu quả của can thiệp. Cũng như ngẫu nhiên hóa có thể thực hiện bằng nhiều thuật toán, cách mật hóa cũng có thể thực hiện bằng nhiều “thủ thuật”.
    Phân tích dữ liệu (Data Analysis). Thiết kế và phân tích các nghiên cứu đều cần đến các phương pháp thống kê. Trong phần phân tích, phải cho thấy được biến phụ thuộc (hay endpoints hoặc outcome) là gì, biến độc lập (hay risk factors hoặc covariates) là gì, và định nghĩa rõ ràng các biến này được xử lí ra sao. Có nhiều phương pháp phân tích số liệu và kiểm định giả thuyết, nên tác giả còn phải giải thích tại sao đã chọn phương pháp A mà không là phương pháp B. Đôi khi tác giả cũng phải nói ra đã dùng software nào cho phân tích.
    Phần phương pháp thường dài gấp 2 hay 3 lần phần Dẫn nhập.

    IV.Cách thức viết phần kết quả:
    Nguyên tắc:
    Kết quả phải trả lời cho được câu hỏi “Đã phát hiện những gì?” (Tức là trả lời câu hỏi "What did you find?") Cần phải phân biệt rõ đâu là kết quả chính và đâu là kết quả phụ.
    Phần kết quả phải có biểu đồ và bảng số liệu, và những dữ liệu này phải được diễn giải một cách ngắn gọn trong văn bản. Những số liệu phải được trình bày để lần lượt trả lời các mục đích nghiên cứu (hay câu hỏi nghiên cứu) mà tác giả đã nêu ra trong phần dẫn nhập.
    Phần kết quả phải được viết một cách ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề nêu ra trong phần dẫn nhập. Tất cả các bảng thống kê, biểu đồ, và hình ảnh phải được chú thích rõ ràng; tất cả những kí hiệu phải được đánh vần hay chú giải một cách cụ thể để người đọc có thể hiểu được ý nghĩa của những dữ kiện này. Trong phần kết quả, tác giả chỉ trình bày sự thật và chỉ sự thật (facts), kể cả những sự thật mà nhà nghiên cứu không tiên đoán trước được hay những kết quả “tiêu cực” (ngược lại với điều mình mong đợi). Tác giả không nên bình luận hay diễn dịch những kết quả này cao hay thấp, xấu hay tốt, v.v.. vì những nhận xét này sẽ được đề cập đến trong phần thảo luận (Discussion).
    Để có thể trình bày phần kết quả một cách thuyết phục:
    1. Trước hết, sắp xếp những kết quả quan trọng trong một loạt bảng số liệu và biểu đồ muốn đưa vào bài báo khoa học. Nếu kết quả nghiên cứu đơn giản (như bao nhiêu nam, bao nhiêu nữ, độ tuổi trung bình, v.v…), thì không cần phải trình bày trong bảng số liệu, mà chỉ cần mô tả trong bài báo là đủ. Nhưng những kết quả mang tính phức tạo thì cần phải cần đến bảng số liệu và biểu đồ.
    2. Phần kết quả nên trình bày những dữ liệu cho các mục tiêu đề ra trong phần dẫn nhập.
    3. Khi mô tả kết quả nghiên cứu, cần phải đề cập đến xu hướng khác biệt (directionality) và mức độ khác biệt (magnitude).
    4. Khi mô tả một bảng số liệu, tránh cách viết liệt kê. Một bảng số liệu có khi có rất nhiều số liệu phức tạp, mà tác giả có khi cảm thấy lúng túng không biết nên mô tả số liệu nào trước, và số liệu nào sau. Nguyên lí là chọn số liệu nào nổi trội, quan trọng, và có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu để trình bày. Nói chung, khi trình bày bảng số liệu, cần (a) tối thiểu hóa lặp lại những con số trong bảng số liệu; b) cung cấp cho độc giả những thông tin bổ sung cho bảng số liệu (nhưng không có trong bảng số liệu); và (c) cố gắng súc tích.
    5. Tác giả nên báo cáo kết quả “âm tính” (negative results) – vì đây là những kết quả có khi rất quan trọng! Đôi khi kết quả thí nghiệm không xảy ra như tác giả tiên lượng lúc ban đầu, hoặc không phù hợp với giả thuyết nghiên cứu, và tác giả sợ khó công bố bài báo nên cố tình dấu! Nhưng đó là điều không chấp nhận được trong khoa học. Những kết quả như thế có thể nói lên rằng giả thuyết nghiên cứu không đúng và cần phải phát biểu lại, hoặc phương pháp đo lường có vấn đề, hoặc tác giả đang ngồi trên một khám phá rất quan trọng. Bất cứ lí do gì, tác giả cần phải thành thật trình bày những kết quả “âm tính”, và đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ vì kết quả không như mình tiên lượng là những “kết quả xấu”. Nếu tác giả thiết kế công trình nghiên cứu tốt, thì những dữ liệu kết quả đó là thật, và cần phải được trình bày và diễn giải một cách thích hợp.
    Những “không nên” trong phần kết quả
    1. Không nên đưa vào bài báo những thông tin và dữ liệu “lặt vặt”.
    2. Tránh trình bày một loạt dữ liệu mà không có ý nghĩa gì lớn hay không diễn giải.
    3. Không nên dùng những tính từ mang tính áp đặt trong phần kết quả.
    4. Không nên diễn giải dữ liệu trong phần kết quả.

    V.Bàn Luận:
    Phần Bàn luận (Discussion) là phần cuối của nội dung của một bài báo khoa học, và nó có chức năng giống như là một diễn giải kết quả nghiên cứu. Phần Bàn luận nên tập trung vào trả lời cho được câu hỏi “Những phát hiện đó có ý nghĩa gì”?
    Phần bàn luận gồm:
    (a) Tóm lược giả thuyết, mục tiêu, và phát hiện chính trong đoạn văn đầu tiên;
    b) So sánh những kết quả này với các nghiên cứu trước;
    (c) Giải thích kết quả bằng cách đề ra mô hình mới hay giả thuyết mới;
    (d) Khái quát hóa và ý nghĩa của kết quả;
    (e) Những ưu điểm và khuyết điểm của công trình nghiên cứu
    (f) Kết luận.

    Sơ đồ cho phần thảo luận





    1.Mở đầu phần bàn luận bằng cách tóm tắt bối cảnh, giả thuyết, mục tiêu và phát hiện chính của nghiên cứu.
    2.So sánh kết quả của nghiên cứu với các nghiên cứu trước.
    3.Giải thích kết quả và cơ chế của những mối liên hệ phát hiện trong nghiên cứu.
    4.Khái quát hóa kết quả nghiên cứu và giải thích ý nghĩa của kết quả.
    5.Bàn luận về điểm mạnh và điểm yếu của công trình nghiên cứu.
    6.Kết luận.
    Cảm tạ (Acknowledgments). Thông thường ngay sau phần bàn luận là phần nhỏ để tác giả viết vài dòng cảm tạ. Cảm tạ những đồng nghiệp đã giúp đỡ cho công trình nghiên cứu, cảm tạ những cơ quan đã tài trợ cho nghiên cứu, hay nhà hảo tâm giúp đỡ tiền bạc cho tác giả trong quá trình làm việc.

    (nguồn:
    Viện Pasteur TP. HCM)

    Last edited by Trần Thế Viện; 22-08-13 at 13:38.
    Dermatology is my life.
    Chỉ thích VODKA với CAFÉ nóng


LinkBacks (?)

  1. 22-08-13, 14:25

Thread Information

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 bác đang thực tập trong bệnh phòng này. (0 học viên và 1 dự thính)

Bookmarks

Quyền viết bài

  • Bác không được phép tạo bài mới
  • Bác không được phép trả lời bài
  • Bác không được đính kèm file vào bài viết
  • Bác không được sửa lại bài mình viết
  •