• Viêm não Nhật Bản (Japanese Encephalitis)

      by
      09-09-14, 21:50
      Viêm não Nhật Bản (Japanese Encephalitis)
      Phần lớn người nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản không có triệu chứng; dưới 1% người nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản có biểu hiện lâm sàng. Bệnh thường khởi phát đột ngột với biểu hiện của sốt, đau đầu, nôn. Tình trạng tinh thần thay đổi, rối loạn thần kinh trung ương, yếu cơ hay rối loạn vận động có thể xảy ra trong vài ngày tiếp đó.

      Khoảng thời gian trước tháng 6/2014 tại Sơn La, số lượng trẻ em mắc bệnh viêm não tăng cao, và đã có 13 trẻ tử vong bởi bệnh này. Sau một vài tháng thì có thêm một loạt các trường hợp viêm não phải nhập viện và đã có 22 trường hợp được xác định là viêm não Nhật Bản. Để cung cấp thông tin về bệnh viêm não Nhật Bản cho các bạn đồng nghiệp và cộng đồng nhằm giúp cho việc phòng bệnh và điều trị hiệu quả, chúng tôi xin được lược dịch bài viết viêm não Nhật bản dưới đây.


      VIÊM NÃO NHẬT BẢN

      Tác giả: Susan L. Hills, Ingrid B. Weber, Marc Fischer
      Trung tâm Kiểm soát và Dự phòng Bệnh tật Hoa Kỳ
      Lược dịch: TS. BS. Lê Luật
      Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương

      CĂN NGUYÊN GÂY BỆNH

      Vi rút viêm não Nhật Bản có sợi RNA đơn, chủng Flavivirus, có liên quan gần gũi với các vi rút gây viêm não như West Nile vi rút, Saint Louis vi rút

      LÂY TRUYỀN

      Người bị nhiễm vi rút viêm não Nhật Bản khi bị muỗi có chứa vi-rút đốt, chủ yếu là muỗi thuộc loài Culex. Vi rút viêm não Nhật Bản được duy trì trong chu trình sinh học giữa muỗi, vật chủ trung gian, chủ yếu là lợn và chim di cư. Người là vật chủ ngẫu nhiên hay vật chủ cuối, vì vi rút trong cơ thể người không đủ số lượng để có thể lây truyền cho muỗi

      DỊCH TỄ

      Vi rút viêm não Nhật Bản là vi rút gây viêm não phổ biến ở Châu Á, có thể ngăn ngừa vi rút viêm não Nhật Bản bằng vắc xin, Vi rút viêm não Nhật Bản phổ biến ở hầu hết các khu vực của Châu Á và nhiều nơi ở khu vực Tây Thái Bình Dương (Hình 1). Sự lây truyền vi rút viêm não Nhật Bản chưa được phát hiện ở các khu vực thuộc Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ. Sự lây truyền của vi rút chủ yếu ở khu vực nông thôn, thường có liên quan đến gặt lúa và tưới tiêu. Ở vài khu vực Châu Á, đặc điểm sinh thái học này có thể xảy ra ở gần, thỉnh thoảng ở trung tâm của thành thị. Ở vài vùng của Châu Á, sự lây truyền diễn ra theo mùa, đỉnh của bệnh thường vào mùa hè và mùa mưa. Ởmột số khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, sự lây truyền theo mùa thay đổi theo mùa mưa và kỹ thuật tưới tiêu, có thể kéo dài hay thậm chí có quanh năm.

      Ở các nước trong vùng dịch tễ, người trưởng thành thường có miễn dịch mắc phải qua nhiễm trùng tự nhiên, Viêm não Nhật Bản là bệnh lý chủ yếu ở trẻ em. Tuy nhiên, viêm não Nhật Bản có thể xảy ra ở bất cứ độ tuổi nào của khách du lịch. Đối với phần lớn khách du lịch đến Châu Á, nguy cơ bị viêm não Nhật Bản là cực thấp, tuy nhiên điều này còn thay đổi, phụ thuộc theo điểm đến, thời gian, mùa và hoạt động ở vùng dịch tễ.

      Từ năm 1973 đến năm 2011, 58 báo cáo về nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản được công bố có liên quan đến du lịch từ vùng không có dịch tễ đến vùng dịch tễ của viêm não Nhật Bản. Từ khi vắc xin vi-rút viêm não Nhật Bản được cấp giấy phép sử dụng ở Mỹ, chỉ có 7 ca viêm não Nhật Bản có liên quan đến du lịch được báo cáo đến Trung tâm Kiểm soát và Dự phòng Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) từ 1992 đến 2011.

      Tỷ lệ mắc viêm não Nhật Bản của khách du lịch đến Châu Á được ước tính dưới 1 ca/1 triệu khách du lịch. Tuy nhiên, các chuyên gia hay khách du lịch sống thời gian dài ở vùng nông thôn có lưu hành lây truyền viêm não Nhật Bản, họ cũng có nguy cơ nhiễm bệnh tương đương với cộng đồng dân cư nhậy cảm với bệnh (5-50 ca/100.000 trẻ hàng năm). Khách du lịch thời gian ngắn vẫn có thể có nguy cơ cao bị nhiễm bệnh nếu họ thường xuyên có các hoạt động ngoài trời, hay về đêm ở các vùng nông thôn trong mùa dịch. Khách du lịch dưới 1 tháng, người chỉ sống giới hạn ở khu vực thành thị thường có m\nguy cơ nhiễm bệnh thấp nhất. Ở vài cùng dịch tễ, có 1 số ca bệnh ở trong cộng đồng vì miễn dịch tự nhiên giữa người già hoặc người có tiêm vắc xin; tuy nhiên, vi-rút viêm não Nhật Bản thường được duy trì ở những khu vực này trong chu trình sinh học giữa động vật và muỗi. Do đó, khách du lịch vẫn có nguy cơ nhiễm bệnh.


      Hình 1. Phân bố của viêm não Nhật Bản theo địa lý

      BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

      Phần lớn người nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản không có triệu chứng; dưới 1% người nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản có biểu hiện lâm sàng. Nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản thường có biểu hiện lâm sàng của một bệnh viêm não cấp tính. Thể trung bình của bệnh, như viêm màng não vô trùng hay sốt có thể xuất hiện. Thời gian ủ bệnh từ 5 đến 15 ngày. Bệnh thường khởi phát đột ngột với biểu hiện của sốt, đau đầu, nôn. Tình trạng tinh thần thay đổi, rối loạn thần kinh trung ương, yếu cơ hay rối loạn vận động có thể xảy ra trong vài ngày tiếp đó.

      Các biểu hiện kinh điển của viêm não Nhật Bản bao gồm:
      + Hội chứng Parkinson với mặt lạnh lùng, run, động tác chậm chạp, cứng cơ
      + Liệt mặt cấp, biểu hiện lâm sàng, sinh bệnh học tương tự như viêm tủy xám
      + Thường xuyên có co giật, đặc biệt ở trẻ em
      + Xét nghiệm thường có tăng bạch cầu, thiếu máu nhẹ, giảm natri máu. Dịch não tủy (CSF) đặc trưng bởi tăng nhẹ đến trung bình tế bào bạch cầu lympho, tăng nhẹ protein, tỷ lệ đường trong CSF và máu bình thường

      Tỷ số ca bệnh-tử vong khoảng 20%-30%. Trong số những người khỏi bệnh có tới 30%-50% để lại các di chứng nặng nề về thần kinh, nhận thức hay tinh thần.

      CHẨN ĐOÁN

      Viêm não Nhật bản nên được nghĩ tới trên những bệnh nhân có biểu hiện nhiễm trùng thần kinh (viêm não, viêm màng não, liệt mặt cấp tính) hay trên người có đi du lịch đến hoặc cư trú tại những nước thuộc vùng dịch tễ viêm não Nhật Bản ở khu vực Châu Á hay Tây Thái Bình Dương. Xét nghiệm chẩn đoán viêm não Nhật Bản thường là ELISA phát hiện kháng thể IgM trong huyết thanh hay dịch não tủy. Ở hầu hết các bệnh nhân, kháng thể đặc hiệu IgM của viêm não Nhật Bản được phát hiện trong dịch não tủy sau khởi phát 4 ngày, trong huyết thanh sau 7 ngày. Chẩn đoán xác định khi kháng thể trung hòa viêm não Nhật Bản tăng 4 lần giữa giai đoạn cấp và hồi phục. Tiền sử tiêm vắc xin, ngày khởi phát triệu chứng, các vi rút khác thuộc chủng Flavivirus lưu hành trong khu vực cần được đánh giá vì các yếu tố này có thể làm xuất hện phản ứng chéo khi làm phản ứng huyết thanh.

      Người có nồng độ vi rút thoáng qua trong máu thấp, thường có kháng thể trung hòa ở thời điểm các triệu chứng lâm sàng được nhận biết. Phân lập vi rút, phản ứng sinh học phân tử không nhạy cảm cho phát hiện vi-rút viêm não Nhật Bản hay RNA của vi rút trong máu và dịch não tủy, không nên sử dụng các xét nghiệm (test) này cho chẩn đoán viêm não Nhật Bản.

      ĐIỀU TRỊ

      Không có thuốc kháng vi rút đặc hiệu cho viêm não Nhật Bản, chủ yếu là các chăm sóc hỗ trợ và kiểm soát các biến chứng.

      DỰ PHÒNG

      Các biện pháp bảo vệ cá nhân

      Cách tốt nhất phòng các bệnh liên quan đến muỗi là hạn chế bị muỗi đốt.

      Vắc-xin

      Ixiaro vắc xin được sản xuất và cung cấp bởi Intercel và Novartis. Ixiaro là vắc xin bất hoạt qua nuôi cấy tế bào Vero, được chấp thuận sử dụng cho người trên 17 tuổi vào năm 2009, trẻ từ 2 tháng tuổi đến 16 tuổi vào tháng 5 năm 2013. Có một số vắc xin bất hoạt và sống giảm độc lực khác được sản xuất và sử dụng tại một số nước khác nhưng không được cấp phép sử dụng tại Mỹ.

      Chỉ định dùng vắc xin cho người đi du lịch

      Khi đưa ra khuyến cáo sử dụng vắc xin viêm não Nhật Bản cho người đi du lịch, bác sĩ cần đánh giá nguy cơ nhiễm viêm não Nhật Bản khi đi du lịch, tỷ lệ tử vong, di chứng khi nhiễm viêm não Nhật Bản, tác dụng phụ có thể xảy ra sau khi tiêm phòng và giá tiền của vắc xin. Việc đánh giá nguy cơ nhiễm bệnh nên được tiến hành từ khi có kế hoạch đi du lịch, bao gồm địa điểm, thời gian, hoạt động, các bệnh lưu hành theo mùa tại địa điểm đi du lịch (Bảng 2). Dữ liệu trong bảng nên được giải thích cụ thể, vì lây truyền vi-rút viêm não Nhật Bản là khác nhau giữa các nước, năm này so với năm khác.

      Ủy ban tư vấn thực hành tiêm chủng khuyến cáo tiêm phòng vắc xin vi-rút viêm não Nhật Bản cho người đi đến sống ở vùng dịch tễ nhiều hơn 1 tháng. Những đối tượng này bao gồm người du lịch dài ngày, đi du lịch lại, các chuyên gia đến làm việc tại các thành phố nhưng thường đi đến vùng nông thôn, hay khu vực sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn có nguy cơ cao nhiễm vi-rút viêm não Nhật bản. Vắc xin cần được đánh giá sử dụng trong những trường hợp sau:
      + Du lịch ngắn ngày đến vùng dịch tễ (dưới 1 tháng) trong mùa lây truyền vi-rút viêm não Nhật Bản, nếu họ có kế hoạch đi đến vùng ngoài thành phố và các hoạt động có thể làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm với vi-rút viêm não Nhật Bản. Các hoạt động có nguy cơ cao như; 1) hoạt động ngoài trời ở các vùng nông thôn, nông nghiệp, đặc biệt về tối hoặc đêm; 2) tham gia các hoạt động tích cực như cắm trại, đạp xe, dã ngoại, câu cá, đi săn hoặc làm đồng; 3) sống trong nhà không có điều hòa, màn.
      + Đi đến vùng đang có dịch viêm não Nhật Bản
      + Đi đến vùng dịch tễ, người không có điểm đến cụ thể, hoạt động hoặc thời gian chi tiết

      Vắc xin viêm não Nhật Bản không khuyến cáo được sử dụng cho người đi du lịch thời gian ngắn ngày, và các hoạt động chủ yếu ở thành phố, hoặc vào thời gian không phải mùa lây truyền viêm não Nhật Bản.

      Hiệu quả của vắc-xin và miễn dịch

      Không có dữ liệu nào về tính hiệu quả của Ixiaro. Vắc xin được cấp phép tại Mỹ, dựa trên khả năng làm xuất hiện kháng thể trung hòa với viêm não Nhật Bản, cũng như đánh giá an toàn trên 5000 người lớn sử dụng vắc xin này. Trong nghiên cứu tính hiệu quả miễn dịch, 96% người trưởng thành xuất hiện kháng thể trung hòa sau khi nhận 2 liều vắc xin trong vòng 28 ngày.

      Kế hoạch sử dụng vắc-xin

      Kế hoạch sử dụng vắc xin cơ bản: 2 liều, liều thứ 2 cách liều thứ nhất 28 ngày, tiêm bắp. Mũi thứ 2 cần được tiêm trước 1 tuần trước khi đi du lịch.

      Thời gian bảo vệ sau sử dụng 2 liều vắc xin cơ bản với Ixiaro là chưa rõ ràng. Trong một thử nghiệm lâm sàng, sau khi nhận 2 liều vắc xin Ixiaro, 83% người trưởng thành duy trì miễn dịch sau 12 tháng kể từ mũi đầu tiên. Thử nghiệm thứ 2, 58% và 48% người trưởng thành duy trì kháng thể sau 12 và 24 tháng. Thử nghiệm thứ 3, 69% người trưởng thành duy trì miễn dịch sau 15 tháng.

      Đối với người trưởng thành, nếu đã tiêm 2 mũi Ixiaro nhiều hơn 1 năm, nên tiêm liều củng cố trước khi đi đến vùng đang lưu hành dịch tễ. Chưa có dữ liệu về đáp ứng của liều củng cố đối với người đã tiêm 2 mũi đầu tiên nhiều hơn 2 năm. Đồng thời cũng chưa có dữ liệu về thời gian, nhu cầu tiêm liều vắc xin củng cố ở trẻ em.

      Dữ liệu về việc sử dụng vắc xin Ixiaro làm liều củng cố sau khi nhận 2 mũi đầu tiên là vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt từ não chuột còn hạn chế. Hai nghiên cứu được tiến hành, một tại căn cứ quân sự của Mỹ, một tại bệnh viện du lịch ở Châu Âu. Cả hai nghiên cứu chỉ ra người đã nhận 2 mũi vắc xin bất hoạt từ não chuột, liều vắc xin Ixiaro đều kích thích sản sinh kháng thể trung hòa, bảo vệ trong thời gian ngắn. Kháng thể xuất hiện từ 4 đến 8 tuần sau liều củng cố; do đó, nghiên cứu về thời gian bảo vệ sau khi sử dụng liều vắc xin Ixiaro đơn độc thay vì sử dụng vắc xin bất hoạt từ não chuột. Cho đến khi có những dữ liệu này, người được sử dụng vắc-xin viêm não Nhật Bản (JE-Vax), vắc xin bất hoạt từ não chuột, nên dùng 2 liều cơ bản của vắc xin Ixiaro

      An toàn của vắc-xin và tác dụng phụ

      Đau tại nơi tiêm là triệu chứng phổ biến được báo cáo trong nghiên cứu về tính an toàn của vắc xin Ixiaro với 1993 người trưởng thành tham gia. Đau đầu, đau cơ, mệt mỏi và ốm như cúm được báo cáo với tỷ lệ nhiều hơn 10% người tham gia. Ở trẻ em, sốt là phản ứng cơ thể hay gặp nhất. Ixiaro được cấp phép sử dụng sau khi thử nghiệm với gần 5000 người, do đó các tác dụng phụ nguy hiểm, hiếm có thể không được phát hiện. Các nghiên cứu, khảo sát sau khi cấp phép đang được tiến hành để đánh giá tính an toàn của vắc xin Ixiaro trong quần thể lớn.

      Khuyến cáo và chống chỉ định

      Phản ứng dị ứng nghiêm trọng sau khi sử dụng mũi vắc xin đầu tiên là chống chỉ định cho việc sử dụng các mũi vắc xin tiếp theo. Ixiaro chứa protamine sulfat, hợp chất này gây phản ứng dị ứng nghiêm trọng ở một số người. Chưa có nghiên cứu nào về sử dụng Ixiaro cho phụ nữ có thai được tiến hành. Do đó, chỉ định Ixiaro cho phụ nữ có thai cần được trì hoãn. Phụ nữ có thai đi đến vùng có nguy cơ lây truyền vi-rút viêm não Nhật Bản cao cần được tiêm phòng vắc xin nếu nguy cơ tác dụng phụ trên lý thuyết thấp hơn nguy cơ nhiễm vi rút.

      Bảng 1. Vắc-xin cho vi-rút viêm não Nhật Bản
      VACCINE Tên thương mại (nhà sản xuất) Tuổi Liều Đường tiêm Kế hoạch Củng cố
      JE vaccine, bất hoạt Ixiaro (Intercell) ≥17 tuổi 0.5 mL Tiêm bắp 0, 28 ngày Sau 1 năm
      JE vaccine, bất hoạt Ixiaro (Intercell) 3 tuổi đến 16 tuổi 0.5 mL Tiêm bắp 0, 28 ngày Chưa có dữ liệu
      JE vaccine, bất hoạt Ixiaro (Intercell) 2 tháng đến 2 tuổi 0.25 mL Tiêm bắp 0, 28 ngày Chưa có dữ liệu
      Abbreviation: IM, intramuscular.
      1If potential for JE virus exposure continues.
      (Updated September 18, 2013)

      Bảng2. Nguy cơ lây nhiễm vi-rút viêm não Nhật Bản cho từng nước
      Nước
      Vùng ảnh hưởng
      Mùa lây truyền
      Bàn luận
      Australia
      Đảo Outer Torres Strait
      Tháng 12-Tháng 5; các ca bệnh xuất hiện tháng 2-tháng 4
      1 human case reported from north Queensland mainland
      Bangladesh
      Lan truyền rộng
      Các ca bệnh xuất hiện tháng 5-tháng 10
      Khảo sát cho thấy các ca bệnh trên người xuất hiện ở tỉnh Chittagong, Dhaka, Khulna, Rajshahi, and Sylhet Divisions; tỷ lệ mắc cao nhất ở Rajshahi Division; vụ dịch xảy ra ở QuậnTangail District, Dhaka Division, năm 1977
      Bhutan
      Rất ít ca bệnh được báo cáo
      Không có dữ liệu
      Tương tự các vùng dịch tễ khác, có xuất hiện các véc tơ truyền bệnh
      Brunei
      Không có dữ liệu
      Chưa rõ
      Tương tự các vùng dịch tễ khác, có xuất hiện các véc tơ truyền bệnh
      Burma (Myanmar)
      Ít dữ liệu
      Chưa rõ, phần lớn các ca bệnh xuất hiện vào Tháng 5-tháng 10
      Vụ dịch trên người xuất hiện ở bang Shan; kháng thể kháng JE được tìm thấy trên người, động vật ở một số khu vực khác
      Cambodia
      Toàn quốc
      Suốt năm, đỉnh vào tháng 5-tháng 10
      Khảo sát cho thất các ca bệnh trên người xuất hiện ở ít nhất 15/23 tỉnh, bao gồm Phnom Penh, Takeo, Kampong Cham, Battambang, SvayRieng, vàSiem Reap; ca bệnh trên khách du lịch gần đây được báo cáo ở tỉnh Phnom Penh và Angkor Wat/Siem Reap
      Tàu
      Ca bệnh trên người được báo cáo trên toàn quốc ngoại trừ Tây tạng (Tibet), Tân Cương, và Thanh Hải Qinghai.
      Phần lớn ca bệnh xuất hiện tháng 6-tháng 10
      Tỷ lệ mắc cao nhất ở tỉnh QuảngChâu,Sơn Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, và Chongqing City. Vắc xin không được sử dụng thường quy cho những khách du lịch đến Bắc kinh, Thượng Hải, Hồng Kong/kowloon(Updated August 20, 2013)
      Ấn độ
      Các ca bệnh được báo cáo ở hầu hết các bang ngoại trừ Dadra, Daman, Diu, Gujarat, Himachal Pradesh, Jammu và Kashmir, Lakshadweep, Meghalaya, Nagar Haveli, Punjab, Rajasthan, và Sikkim
      Phần lớn các ca bệnh xuất hiện vào tháng 5-tháng 10, đặc biệt ở khu vực bắc Ấn độ, 1 số khu vực xuất hiện mùa dịch dài hơn, hay quanh năm như ở Nam Ấn độ
      Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở các bang Andhra Pradesh, Assam, Bihar, Goa, Haryana, Karnataka, Kerala, Tamil Nadu, Uttar Pradesh, và West Bengal
      Indonesia
      Presumed to be endemic countrywide
      Human cases reported year-round; peak season varies by island
      Sentinel surveillance has identified human cases in Bali, Kalimantan, Java, Nusa Tenggara, Papua, and Sumatra
      Nhật bản
      Hiếm có ca bệnh, trừđảo Hokkaido,
      Các ca bệnh được báo cáo vào tháng 7-tháng 10
      Trước năm 1960 khi chưa có vắc xin, các ca bệnh rất phổ biến. Các vụ dịch gần đay chủ yếu từ quận Chugoku năm 2002, vùng dịch tễ không có ca bệnh trên người, Hokkaido, vắc xin không được khuyến cáo cho người du lịch đến Tokyo hay 1 số thành phố khác
      Triều Tiên
      Dữ liệu hạn chế;phổ biến toàn quốc
      Không có dữ iệu; theo số liệu của Hàn Quốc,đỉnh của mùa dịch vào tháng 5-tháng 10

      Hàn Quốc
      Thỉnh thoảng có ca bệnh, vùng lưu hành dịch tễ
      Tháng 5- tháng 10
      Trước năm 1980 khi chưa có vắc xin, các ca bệnh rất phổ biến, các ca bệnh chủ yếu từ khu vực phía nam;vụ dịch cuối xuất hiện năm 1982;vắc xin không được khuyến cáo sử dụng cho khách du lịch đến Seoul và các thành phố khác
      Lào
      Dữ liệu hạn chế, phổ biến toàn quốc
      Quanh năm;tháng 6-tháng 9
      Các ca bệnh xuất hiện trên toàn quốc
      Malaysia
      Vùng dịch tễ là Sarawak; Các ca bệnh lẻ được báo áo từ 1 số tỉnh khác
      Quanh năm; đỉnh vào tháng 10-tháng 12
      Phần lớn các ca bệnh được báo cáo từ tỉnh Sarawak; vắc xin không được khuyến cáo sử dụng cho khách du lịch đến Kuala Lumpur và các thành phố khác
      Mông cổ
      Không lưu hành dịch tễ

      Vắc xin không được khuyến cáo
      Nepal
      Vùng dịch tễ ở đồng bằng phía nam, vùng đồi núi cũng có ca bệnh được báo cáo;thung lũng Kathmandu
      Tháng 6-tháng 10
      Tỷ lệ cao nhất ở quận Terai phía tây, bao gồm Banke, Bardiya, Dang, vàKailali; vắc xin không được khuyến cáo sử dụng cho người đi dã ngoại đến vùng cao hay sống thời gian ngắn ở Kathmandu hayPokhara
      Pakistan
      Hạn chế dữ liệu, chủ yếu ở tỉnh Karachi
      Chưa rõ

      Papua New Guinea
      Hạn chế dữ liệu; có thể phổ biến rộng
      Chưa rõ ; có thể quanh năm
      Vài ca bệnh lẻ đưuọc báo cáo ở các tỉnh phía Tây; bằng chứng huyết thanh học ở tỉnh Gulf vàSouthen Highland;1 ca bệnh được báo cáo gần Port Moresby năm 2004
      Philippines
      Hạn chế dữ liệu; có thể phổ biến rộng ở các đảo
      Chưa rõ ; có thể quanh năm
      Vụ dịch được báo cáo ở Nueva Ecijavà Manila; khảo sát cho thấy các ca bệnh xuất hiện 1 số vùng như Luzon vàVisayas
      Nga
      Ít ca bệnh được báo cáo ở vùng Far Eastern
      Tháng 7-tháng 9

      Singapore
      Ít ca bệnh được báo cáo
      Quanh năm
      vắc xin không được khuyến cáo sử dụng
      Sri Lanka
      Phổ biến rộng, ngoại trừ vùng núi
      Quanh năm với đỉnh thay đổi phụ thuộc vào mùa mưa
      Tỷ lệ bệnh cao nhất ở quận Anuradhapura, Gampaha, Kurunegala, Polonnaruwa, vàPuttalam
      Đài Loan
      Ít ca bệnh được báo cáo
      Tháng 5-Tháng 10
      Trước năm 1968 khi chưa có vắc xin, các ca bệnh JE rất phổ biến;vắc xin không được khuyến cáo sử dụng
      Thái lan
      Phổ biển toàn quốc;dịch theo mùa ở tỉnh phía bắc
      Quanh năm, đỉnh vào tháng 5-tháng 10, đặc biệt phía bắc
      Tỷ lệ mắc cao nhất ở Chiềng Mai; ca bệnh rải rác ở ngoại ô Băng cốc;vài ca bệnh ở khách du lịch được báo cáo ở các khu nghỉ dưỡng, vùng duyên hải phía nam.
      Timor-Leste
      Ca bệnh rải rác; phổ biến toàn quốc
      Không có dữ liệu

      Việt nam
      Toàn quốc
      Quanh năm, đỉnh tháng 5-tháng 10, đặc biệt phía bắc
      Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở phía bắc, các tỉnh xung quanh hà Nội, gần biên giới với Tàu
      Đảo Tây Thái Bình Dương
      Vụ dịch được báo cáo ở đảo Guam năm 1947–1948 và Saipan năm 1990
      Không rõ, chủ yếu tháng 10-tháng 3
      Vắc xin không được khuyến cáo sử dụng
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác