• Rối loạn giả bệnh

      by
      15-02-14, 23:29
      Rối loạn giả bệnh
      Người bị rối loạn giả bệnh giả mạo bệnh như thật. Họ giả vờ, tạo ra bệnh hoặc làm như bệnh trầm trọng hơn, thường phải chịu đau đớn, làm móp méo, ngay cả làm tổn thương nguy hại đến chính tính mạng của họ, hoặc hạ thấp sự chăm sóc bản thân

      Người bị rối loạn giả bệnh giả mạo bệnh như thật. Họ giả vờ, tạo ra bệnh hoặc làm như bệnh trầm trọng hơn, thường phải chịu đau đớn, làm móp méo, ngay cả làm tổn thương nguy hại đến chính tính mạng của họ, hoặc hạ thấp sự chăm sóc bản thân. Không giống như giả bệnh có một mục đích vật chất, như đạt được một tiền lệ nào đó hoặc tránh né trách nhiệm, Bệnh nhân (BN) bị rối loạn giả bệnh phải trải qua những đau khổ nguyên phát để giành được chăm sóc về mặt cảm xúc, được chú ý mà điều này đóng vai trò quan trọng với BN. Khi làm như vậy, họ phải có kỹ xảo, có nghệ thuật, phải tạo ra màn kịch trong bệnh viện mà thường tạo ra tình trạng mất tinh thần và bất lực. Bệnh lý này có tính chất bất chợt, nhưng những hành vi thường là tự nguyện với yêu cầu họ phải thận trọng và có chủ đích, ngay cả khi họ không còn kiểm soát được tình thế. Các nhà lâm sàng cần đánh giá khi nào triệu chứng là có chủ tâm, bằng những bằng chứng trực tiếp và bằng cách loại trừ những nguyên nhân khác.


      Ảnh minh họa - Một cảnh trong phim “Shock Corridor” do Samuel Fuller viết kịch bản và đạo diễn. Phim kể về nhà báo Johnny Barrett (Peter Breck thủ vai), Johnny cho rằng con đường nhanh nhất để nhận giải thưởng Pulitzer là giả điên để thâm nhập vào một bệnh viện tâm thần, điều tra một kẻ sát nhân. Khi điều tra vụ án tại đây, Johnny không những bị ám ảnh nặng nề bởi lối cư xử của các bệnh nhân tâm thần mà còn phải chịu đựng nhiều biện pháp trị liệu khắc nghiệt. Dần dần, Johnny bị ảo giác và luôn cho rằng cô người yêu là chị gái mình. Cuối cùng, Johnny cũng tìm ra chân tướng kẻ giết người, song những tổn thương về tâm lý của anh thì không sao chữa trị được. Thay vì được hiệp hội nhà báo tôn vinh, Johnny “giành” thẻ cư trú vĩnh viễn tại bệnh viện tâm thần.

      Trong một bài báo năm 1951 trong báo Lancet, Richard Asher đặt ra thuật ngữ “Hội chứng Munchausen” để đặt cho hội chứng mà khi đó bệnh nhân thêm thắt vào bệnh sử cá nhân họ, bịa đặt các triệu chứng một cách dai dẳng để được nhập viện, đưa từ bệnh viện này sang bệnh viện khác. Hội chứng được đặt tên của Baron Hieronymus Friedrich Freiherr von Munchausen (1720 – 1791), một sĩ quan kỵ binh người Đức.

      DỊCH TỄ HỌC

      Không có dữ liệu dịch tể học toàn diện nào về rối loạn giả bệnh. Có những nghiên cứu hạn chế cho thấy những BN này chiếm khoảng 0.8 – 1% của những bệnh nhân tâm thần khám bệnh. Theo DSM-IV-TR, rối loạn giả bệnh được chẩn đoán ở khoảng 1% BN đến khám về tâm thần tại BV đa khoa. Tỷ lệ này cao hơn ở những đơn vị khám chuyên khoa sâu. Những trường hợp bệnh có triệu chứng giả đò về tâm lý ít gặp hơn triệu chứng về cơ thể. Ngân hàng dữ liệu về một người giả triệu chứng bệnh cần được thành lập để thông báo cho các bệnh viện biết về những người bệnh như vậy, rất nhiều trong số này hay “đi du lịch” từ bệnh viện này sang bệnh viện khác, tìm kiếm sự nhập viện dưới những tên khác nhau, hoặc dưới bệnh lý khác nhau.

      Khảng 2/3 số bệnh nhân có hội chứng Munchausen là nam giới, thường là người da trắng, độ tuổi trung niên, không nghề nghiệp, chưa lập gia đình và không có sự gắn kết đáng kể về mặt gia đình, xã hội. BN được chẩn đoán rối loạn giả bệnh với triệu chứng cơ thể hầu hết là nữ, nhiều gấp 3 lần nam. Họ thường trong độ tuổi 20 – 40 với quá khứ có nghề hoặc được đào tào ngành y tá, hoặc chăm sóc sức khỏe. Rối loạn giả bệnh về cơ thể thường bắt đầu từ khoảng độ tuổi 20, 30, mặc dù y văn ghi nhận có những trường hợp bệnh từ 4 – 79 tuổi.

      Rối loạn giả bệnh được ủy nhiệm (sẽ bàn đến sau) thường là từ người mẹ vô tình gây ra nhằm chống đối lại đứa con của mình. Hiếm gặp hoặc do chưa được nhận biết đầy đủ, người ta ghi nhận thấy có khoảng 0.04% hoặc 1000 trường hợp trong số 3 triệu trường hợp lạm dụng trẻ em, có biểu hiện rối loạn giả bệnh.

      Bệnh đồng thời: nhiều người được chẩn đoán rối loạn giả bệnh có một chẩn đoán bệnh tâm thần đồng thời (VD: rối loạn lưỡng cực, rối loạn nhân cách, rối loạn do chất).

      NGUYÊN NHÂN

      Yếu tố tâm lý xã hội

      Cơ sở tâm lý động năng của rối loạn giả bệnh vẫn chưa được hiểu rõ vì bệnh nhân gặp khó khăn để đối diện với một quá trình tâm lý trị liệu đào sâu. Họ sẽ khăng khăng rằng những triệu chứng của họ là về cơ thể và điều trị theo hướng tâm lý sẽ vô dụng. Những trường hợp bệnh có tính giai thoại cho thấy nhiều bệnh nhân chịu đựng sự lạm dụng thời niên thiếu hoặc nghèo khó, làm cho họ phải nhập viện thường xuyên trong giai đoạn đầu. Kết quả là việc trì hoãn trong vai trò bệnh nội trú có thể được xem như là cách tránh né tình huống gây sang chấn tại gia đình và BN sẽ tìm được một loạt người canh cổng/gác cửa cho họ (VD: bác sĩ, y tá, nhân viên bệnh viện khác), để có được sự yêu thương và chăm sóc. Ngược lại, thân nhân của BN sẽ là một người mẹ bị chối bỏ, một người cha vắng mặt. Bệnh sử thường gặp cho thấy bệnh nhân xem bố và/hoặc mẹ là một hình ảnh không được chấp nhận, là người không thể có được mối quan hệ thân thuộc với bệnh nhân. Sao chép lại một bệnh có thực, vì vậy, được sử dụng để tái tạo lại một cam kết cha mẹ - con cái được mong muốn. Bệnh lý là một hình thức cưỡng bức tái diễn, lặp lại xung đột cơ bản giữa cần có sự chấp nhận và tìm kiếm sự chấp nhận, giữa tình yêu cần có và tình yêu tìm kiếm trong khi vẫn mong đợi rằng nó sẽ không xãy ra. Do đó, bệnh nhân chuyển khám ở nhiều bác sĩ và ở nhiều thành viên có quyền lực để loại bỏ cha mẹ họ.

      Bệnh nhân tìm kiếm những thủ tục có tính chất gây đau đớn, như phẩu thuật, xét nghiệm chẩn đoán có xâm lấn, có thể có kiểu thể hiện nhân cách bạo dâm, mà theo đó, tình trạng đau đóng vai trò như là cách trừng phạt một tội lỗi trong quá khứ, có thể là tưởng tượng hoặc là sự thật. Một số bệnh nhân có thể thử kiểm soát những sang chấn trong quá khứ, những sang chấn sớm do một bệnh lý y khoa nặng nề, hoặc do quá trình nhập viện, bằng cách nắm bắt vị thế là một bệnh nhân, hồi tưởng lại kinh nghiệm đau đớn và bị đe dọa hết lần này đến lần khác thông qua nhiều lần nhập viện. Những bệnh nhân giả một bệnh lý tâm thần có thể có một người thân đã nhập viện vì một bệnh lý tương tự bệnh lý mà BN đang giả đò. Thông qua cách nhận diện này, BN hy vọng sẽ hợp nhất với người thân theo một cách thức huyền bí nào đó.

      Nhiều BN có hình thức nhận dạng nghèo nàn và hình ảnh bản thân rối rắm, là một đặc trưng của rối loạn nhân cách ranh giới. Một số BN như thể có nhân cách của những người xung quanh họ. Mếu những BN này là những chuyên gia về sức khỏe, họ thường không có thể phân định được họ với những bệnh nhân đến gặp họ. Hợp tác hoặc khích lệ từ những người khác lên việc giả đò rối loạn giả bệnh là một trường hợp hiếm gặp. Mặc dù hầu hết BN thường hành động đơn độc, nhưng bạn bè hoặc người thân cũng tham dự vào việc tạo ra bệnh lý trong một vài giai đoạn nào đó.

      Cơ chế phòng thủ quan trọng là cơ chế: kềm nén, gắn bó với yếu tố xâm lấn, và biểu tượng hóa.

      Yếu tố sinh học

      Một số nhà nghiên cứu đề nghị rằng hoạt động bất thường não bộ có thể là một yếu tố trong rối loạn giả bệnh. Người ta đặt giả thuyết là: suy giảm việc xử lý thông tin sẽ gây ra hiện tượng nói dối (có hệ thống), tính dị thường và hành vi lầm lạc ở BN có hội chứng Munchausen; tuy nhiên, hình thức di truyền bệnh vẫn chưa xác định được, cũng như nghiên cứu về EEG cũng không ghi nhận thấy bất thường đặc trưng ở các BN có rối loạn giả bệnh.

      CHẨN ĐOÁN VÀ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

      Khám nghiệm tâm thần nên nhấn mạnh đến những thông tin đảm bảo từ một vài bạn bè chắc chắn của BN, hoặc từ những người cung cấp thông tin khác, vì rằng những buổi phỏng vấn với những nguồn lực (người thân, bạn bè, người quen …) bên ngoài có thể tin cậy được thường bộc lộ bản chất sai lầm về bệnh lý của BN. Mặc dù sẽ tốn thời gian và sẽ chán ngắt, nhưng thẩm tra lại tất cả các yếu tố hiện diện ở BN về những lần nhận viện trước và những chăm sóc y khoa luôn cần thiết.

      Khám đánh giá tâm thần sau một trường bệnh bệnh lý giả đò, đòi hỏi phải có một buổi khám với cơ bản là tư vấn. Bác sĩ tâm thần thường được yêu cầu xác định chẩn đoán. Trước tình huống này, cần thiết phải tránh những câu hỏi có tính cố cáo, câu hỏi nhấn mạnh điều gì mà có thể gây ra tình trạng bùng nổ hung hăng, sự né tránh hay chống đối của bệnh viện. Một tình trạng nguy hiểm có thể xuất hiện là loạn thần rõ rệt nếu sử dụng cách đối đầu mãnh liệt; trong một số trường hợp, tình trạng giả bệnh giúp cho một tình trạng thích ứng nào đó và là một cố gắng liều lĩnh nhằm né tránh một tình trạng tan rã về sau.

      Rối loạn giả bệnh có triệu chứng tâm lý nổi bật

      Một số bệnh nhân bộc lộ triệu chứng tâm thần mà được cho là giả đò. Sự xác nhận này có thể khó khăn và thường chỉ được xác nhận sau một buổi khảo sát kéo dài. Triệu chứng giả đò thường là: trầm cảm, ảo giác, triệu chứng phân ly và chuyển dạng, hành vi kì dị. Vì bệnh lý của BN sẽ không cải thiện sau một chỉ định điều trị (thường bằng thuốc), nên BN có thể phải uống liều cao thuốc hướng thần và có thể phải dùng đến choáng điện.

      Triệu chứng giả bệnh tâm lý đi kèm với hiện tượng giả như giả bệnh (pseudomalingering), được xem như là cách để thỏa mãn nhu cầu duy trì một hình ảnh nguyên vẹn về bản thân, nên BN sẽ bị tổn hại bằng cách chấp nhận một vấn đề tâm lý tùy thuộc khả năng của BN có làm chủ được thông qua cố gắng về ý thức. Trong những trường hợp này, dối trá là một công cụ để nâng đỡ cái bản ngã (cái Tôi) thoáng qua.

      Hiện nay, triệu chứng giả loạn thần thường gặp hơn so với trước đây. Những biểu hiện giả đò như loạn thần là biểu hiện của một bệnh lý khác, như rối loạn khí sắc, điều này chỉ ra một tiên lượng xấu.

      BN nội trú loạn thần, khi được chẩn đoán là rối loạn giả bệnh với triệu chứng tâm lý, thường có rối loạn nhân cách ranh giới kèm theo. Trong những trường hợp này, tiên lượng thường kém hơn so với rối loạn lưỡng cực I hay rối loạn cảm xúc phân liệt.

      BN có thể xuất hiện với biểu hiện trầm uất và giải thích trầm cảm của họ là do một chuyện xấu về mất mát (cái chết) của bạn bè, người thân. Những chi tiết của câu chuyện này có thể gợi ý một tình trạng tang chế giả vờ, có thể có: một cái chết khốc liệt hay đẫm máu, chết do một tình huống kịch tính, và người mất là trẻ em hoặc người còn trẻ. Những BN khác thường có thể mô tả mất trí nhớ, hoặc ảo thanh, ảo thị.

      Những triệu chứng khác, cũng xuất hiện trong rối loạn giả bệnh dạng thể chất, bao gồm: bịa chuyện kì quặt, mạo danh. Trong chứng bịa chuyện kì quặt, chất liệu thực tế hạn hẹp là sự trộn lẫn giữa các tưởng tượng lan man và nhiều màu sắc. Sự thú vị của người nghe làm hài lòng BN và, do đó, khuyến khích triệu chứng. Bệnh sử hoặc các triệu chứng không chỉ là sự bóp méo sự thật. BN thường mắc sai lầm và đối nghịch với nhiều lĩnh vực trong chính cuộc sống của họ (VD: họ khẳng định cha mẹ đã chết, và lợi dụng sự thương cảm của người khác). Mạo danh thường liên quan đến tính nói dối trong một số trường hợp. Nhiều BN thường khoác vào mình hình ảnh của người có uy tính. VD, người nam thường cho mình là anh hùng trong chiến tranh, qui cho những vết sẹo phẩu thuật là vết tích của những trận đánh, hoặc trong những lần trinh sát nguy hiểm, kịch tính. Tương tự, họ có thể nói rằng họ có liên quan với những hình ảnh hoàn hảo, nổi tiếng nào đó.

      Rối loạn giả bệnh mãn tính có triệu chứng thể chất rõ rệt (hội chứng Munchausen):

      Rối loạn giả bệnh với triệu chứng thể chất rõ rệt là thể bệnh được biết đến nhiều nhất của hội chứng Munchausen. Bệnh lý này còn được gọi là nghiện bệnh viện, nghiện đa phẩu thuật nên được gọi là cái bụng như cái ván rữa, hội chứng bệnh nhân chuyên nghiệp, và nhiều tên khác nữa.

      Biểu hiện cần thiết nhất với BN bị bệnh lý này là họ có khả năng tạo ra nhiều triệu chứng thể chất tốt đến mức họ có thể làm tăng khả năng được nhập viện hoặc ở lại BV. Để bổ sung vào bệnh sử của họ, những BN này có thể giả đò những triệu chứng gợi ý bệnh lý của bất kỳ cơ quan nào. Những triệu chứng này cùng nhóm với các chẩn đoán của hầu hết các bệnh, mà thường cần phải nhập viện, hoặc cần dùng thuốc, và Bn có thể cung cấp một bệnh sử hoàn hảo đến mức có thể lừa được cả những bác sĩ lâm sàng có kinh nghiệm. Biểu hiện lâm sàng là vô số kể, bao gồm: hematoma, hemoptysis, đau bụng, sốt, hạ đường huyết, hội chứng giống lupus, buồn nôn, nôn, choáng váng, co giật. Nước tiểu bị làm vấy máu, hay phân, thì BN dùng thuốc chống đông để giả một bệnh lý chảy máu; dùng insuline để gây hạ đường huyết,… Những bệnh nhân như vậy thường nài nỉ phẩu thuật hay bám dính vào một chiến lược điều trị bằng phẩu thuật. Những than phiền về cảm giác đau, đặc biệt là đau bụng kiểu thận, là thường gặp, với những BN muốn được thuốc gây ngủ. Khoảng một nữa những trường hợp được báo cáo, những BN này yêu cầu được điều trị bằng thuốc đặc trị, thường là thuốc giảm đau. Một khi được vào bệnh viện, họ tiếp tục yêu cầu và cảm thấy khó chịu. Khi mỗi xét nghiệm thực hiện đều âm tính, họ có thể kết tội bác sĩ vô dụng, đe dọa kiện cáo và thường sẽ chửi rủa. Một số BN có thể thoát khỏi triệu chứng một cách đột ngột trong một thời gian ngắn trước khi họ cảm thấy rằng họ đang đối đầu với hành vi giả bệnh của chính họ. Sau đó, họ thường đi đến một bệnh viện khác trong cùng thành phố hoặc ở thành phố khác và bắt đầu lặp lại tương tự. Những yếu tố tiên đoán đặc hiệu là những bệnh lý thể chất thật sự thời niên thiếu mà việc điều trị lúc đó lại quá mức cần thiết, một tình trạng chống đối phẩn uất với nghề y, những công việc cận lâm sàng, và một mối quan hệ quan trọng với bác sĩ lâm sàng trong quá khứ.

      Bác sĩ Trần Trung Nghĩa
      Bộ môn Tâm Thần, Đại học Y dược TP. HCM

      Xem tiếp: CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT, TIẾN TRIỂN-TIÊN LƯỢNG VÀ ĐIỀU TRỊ
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác