• Những vi phạm nghiêm trọng trong nghiên cứu phương pháp chữa bệnh của Cô Phú Bồ Tát

      18-09-15, 16:58
      Những vi phạm nghiêm trọng trong nghiên cứu phương pháp chữa bệnh của Cô Phú Bồ Tát
      Nhìn thấy gì qua đề tài nghiên cứu “Đánh giá khả năng chữa bệnh của chị Phạm Thị Phú tác động lên một số trường hợp ung thư xương khớp” và các nghiên cứu của Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Tiềm năng Con người (VNUTC).


      PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc Quyên, Phó Viện trưởng – Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Tiềm năng Con người. Ảnh: Trần Ngọc Kha (Đại Đoàn Kết)

      Về đaọ đức nghiên cứu

      Với một nghiên cứu trên con người, đạo đức nghiên cứu phải đặt lên hàng đầu. Tòa án Quốc tế Nuremberg đã đề ra 10 điều luật trong nghiên cứu y sinh để đảm bảo việc tôn trọng con người, hướng thiện và công bằng với những bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Các quy định về thử nghiệm lâm sàng của Việt Nam cũng xuất phát từ tình thần của luật này. Đối chiếu với đạo luật Nuremberg (xem ở cuối bài), VNUTC đã có rất nhiều vi phạm. Trong đó có việc nghiên cứu một biện pháp hoàn toàn mới, chưa từng được thử nghiệm trên động vật, chưa có bằng chứng về ích lợi hay tác hại mà đã mang ra thử nghiệm trên người. Cơ cở của Cô Phú Bồ Tát ,theo ghi nhận của Thanh tra Sở Y tế Thái Nguyên không hề có bất cứ phương tiện khám, cấp cứu nào để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân tham gia nghiên cứu, và nhiều điều khác nữa về chất lượng đội ngũ nghiên cứu viên.

      Về thiết kế nghiên cứu

      Theo báo cáo của VNUTC, nghiên cứu sử dụng biện pháp nghe nhìn, phỏng vấn cảm tưởng của bệnh nhân qua phiếu trắc nghiệm cùng với việc tham khảo các tư liệu, số liệu trong bệnh án trước và sau khi chị Phú tác động.

      Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy: những bệnh nhân đến với Cô Phú Bồ Tát đều có hy vọng lớn vào việc chữa bệnh của Cô Phú Bồ Tát. Cộng với việc rao giảng và tung hô của những người xung quanh tạo ra niềm tin trong tiềm thức bệnh nhân. Niềm tin này là yếu tố ám thị rất mạnh, tác động đến cảm giác của người bệnh. Nên có thể người bệnh cảm thấy dễ chịu, khỏe khoắn chứ thực ra bệnh tình không tốt lên chút nào, thậm chí có thể xấu đi. Thực tế, trong điều kiện có lòng tin mãnh liệt anh hùng Ngô Thị Tuyển đã vác được 2 hòm đạn chạy lên trận địa, điều mà chị không làm nổi trong điều kiện bình thường. Vì thế phương pháp thu thập số số liệu qua phỏng vấn của nghiên cứu này chắc chắn sẽ thu được những số liệu sai lầm.

      Nếu là nhà nghiên cứu y học nghiêm túc, trong trường hợp này phải dùng phương pháp mù đôi, để cho dễ hiểu thì tôi tạm giải thích thế này: chia bệnh nhân thành 2 nhóm ngẫu nhiên (nhóm A và nhóm B), cho Cô Phú Bồ Tát và một phụ nữ ngoại hình tương tự Cô Phú Bồ Tát mỗi người giẫm lên lưng một nhóm người. Bệnh nhân không biết mình được Cô Phú Bồ Tát thật hay Cô Phú Bồ Tát giả giẫm. Người phỏng vấn và khám xét bệnh nhân cũng không biết bệnh nhân của mình thuộc nhóm nào, và chỉ khi đó yếu tố ám thị mới loại bỏ được và mới kết luận được tác dụng điều trị thực (nếu có).

      Cũng ở các nhóm bị làm mù trên, nghiên cứu các chỉ số định lượng phải tiến hành theo kế hoạch, ví dụ làm xét nghiệm gì, bao lâu làm một lần, theo dõi bệnh nhân trong bao lâu để đánh giá tỷ lệ tử vong tính theo hàng tháng, tỷ lệ sống sót sau 6 tháng, 1 năm, 5 năm chẳng hạn... chứ không phải chỉ tham khảo các chỉ số trong bệnh án trước và sau điều trị.

      Chúng ta có thể thấy ngay phương pháp mà VNUTC đã thực hiện là phương pháp nghiên cứu xã hội học chứ không phải nghiên cứu y học. Dùng phương pháp nghiên cứu xã hội học vào y học chẳng khác nào dùng phương pháp của khảo cổ để nghiên cứu vật lý hay lấy phương pháp của ngôn ngữ học để nghiên cứu thiên văn.

      Về tiến trình nghiên cứu

      Theo chính trang facebook của VNUTC tiết lộ: mỗi ngày Cô Phú Bồ Tát tiếp khoảng 140 bệnh nhân. Cho dù chỉ 1/4 số bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu thì chắc chỉ tầm trên dưới một tuần là tuyển đủ bệnh nhân theo thiết kế nghiên cứu. Việc đánh giá tiên lượng sống có thể tốn nhiều năm nhưng việc đánh giá các chỉ số quan trắc: thay đổi kích thước khối u, diễn tiến tình trạng di căn, các chỉ số xét nghiệm và lâm sàng khác có thể đưa ra kết luận chỉ sau vài tháng. Không hiểu nghiên cứu vì lý do gì mà từ 2010 đến nay vẫn chưa thực hiện xong. Không hiểu điều gì khuất tất xảy ra. Có thể nhà nghiên cứu thấy thất vọng nên ngừng không nghiên cứu tiếp nữa. Hoặc nghiên cứu đã có kết quả bất lợi nên VNUTC không công bố, hay tệ hại hơn đây chỉ là chiêu bài cho Cô Phú Bồ Tát hành nghề.

      Tuy nhiên về nghiên cứu trên, chúng tôi chưa tìm được nguồn thông tin chính thức nào về thiết kế nghiên cứu, cách lựa chọn bệnh nhân, phác đồ nghiên cứu nên chỉ phân tích theo báo cáo của VNUTC. Rất mong PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc Quyên (vừa đại diện cho VNUTC trả lời phỏng vấn của báo Đại Đoàn Kết trong bài “Chuyện Cô Phú Bồ Tát chữa bệnh: Có hay không năng lượng đặc biệt”) và VNUTC công khai những thông tin trên để giới khoa học cùng đánh giá xem những kết luận của nghiên cứu này có thể tin cậy được không. Nếu quả thật cách thức nghiên cứu vi phạm đạo đức, thiết kế nghiên cứu sai phương pháp, lựa chọn đối tượng chủ quan, tiến trình nghiên cứu không bảo đảm nhưng VNUTC vẫn khẳng định 23 loại bệnh âm được chữa khỏi hoặc đỡ nhờ Cô Phú Bồ Tát thì quả là một kết luận hồ đồ. Và VNUTC tuyên bố rằng đề tài tạo nên thực chứng thuyết phục thì chỉ thuyết phục được những người dân thiếu hiểu biết và những đối tượng cuồng tín “lên đồng”, chứ không thể là “thuyết phục” đối với giới khoa học chân chính.

      Chúng ta có thể hy vọng, với mong muốn của PGS. TS. Nguyễn Thị Ngọc Quyên nên nghiên cứu xem xét thêm. VNUCT sẽ tiến hành một nghiên cứu thực sự nghiêm túc, bài bản để đánh giá giả thuyết của PGS về cái gọi là “năng lượng đặc biệt” cũng như để chứng minh sự tồn tại của VNUTC là xác đáng. Tất nhiên nghiên cứu phải bằng những phương pháp nghiên cứu đúng đắn, với những nghiên cứu viên đủ trình độ. Bước đầu tiên là nghiên cứu trên súc vật: cho một lũ gà ốm lợn toi lên Thái Nguyên, chia một nửa cho diễn biến tự nhiên, một nửa cho Cô Phú Bồ Tát tác động giẫm đạp. Nếu nửa đàn gà lợn mà cô giẫm không sống sót nhiều hơn nửa đàn kia thì đã đủ kết luận ngay là chuyện Cô Phú Bồ Tát có khả năng chữa bệnh là chuyện hoang tưởng. Còn khi đã khẳng định được Cô Phú Bồ Tát có khả năng chữa gà chữa lợn thì lúc bấy giờ sẽ tiến hành tiếp bước nghiên cứu trên người theo những thiết kế nghiên cứu y học chuẩn mực. Tiến bộ y học là điều mọi người đều khao khát. Tôi tin rằng sẽ có nhiều bác sĩ, nghiên cứu viên sẵn sàng tham gia nghiên cứu không công cho đề tài này, cũng như nhiều tỷ phú nhà hào tâm hay con nhang đệ tử của Cô Phú Bồ Tát sẵn sàng tài trợ nghiên cứu để đánh giá khả năng ảo dị của Cô Phú Bồ Tát.


      Các chuẩn mực đạo đức trong nghiên cứu y sinh học có đối tượng là con người bao gồm những nội dung cơ bản sau đây (10 điều của đạo luật Nuremberg):

      1. Nghiên cứu y sinh trên đối tượng con người phải tuân theo các nguyên tắc khoa học và phải dựa trên nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên động vật một cách đầy đủ và phải dựa trên các kiến thức thấu đáo từ các tài liệu khoa học;

      2. Thiết kế từng phép thử nghiệm trên đối tượng con người phải được xây dựng và ghi rõ trong đề cương nghiên cứu và phải được đánh giá bởi hội đồng độc lập;

      3. Nghiên cứu thử nghiệm phải được thực hiện bởi cán bộ có đủ trình độ khoa học tương xứng và được giám sát bởi các chuyên gia y học có kinh nghiệm lâm sàng;

      4. Bất cứ nghiên cứu y sinh học nào có đối tượng nghiên cứu là con người cũng cần phải được đánh giá cẩn thận các nguy cơ có thể lường trước được so với các lợi ích có thể đạt được cho đối tượng nghiên cứu và các đối tượng khác. Quan tâm đến lợi ích của đối tượng nghiên cứu luôn phải đặt trên lợi ích của khoa học và của xã hội;

      5. Quyền của đối tượng nghiên cứu phải được đảm bảo toàn vẹn và luôn được đặt lên hàng đầu. Tất cả các điều dự phòng phải được tiến hành để đảm bảo sự bí mật riêng tư của đối tượng và hạn chế tác động của nghiên cứu lên sự toàn vẹn về thể chất và tâm thần, nhân phẩm của đối tượng nghiên cứu;

      6. Sự chính xác của các kết quả nghiên cứu phải được đảm bảo;

      7. Bất cứ một nghiên cứu nào tiến hành trên con người, mỗi một đối tượng dự kiến tham gia nghiên cứu phải được biết thông tin đầy đủ về mục tiêu, các phương pháp, các lợi ích có thể và các tác hại có thể gây ra cho họ trong nghiên cứu, cũng như những phiền muộn có thể gây ra;

      8. Khi lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu, bác sỹ phải đặc biệt thận trọng nếu đối tượng trong tình trạng phụ thuộc vào bác sỹ. Không được gây áp lực hoặc đe dọa bắt buộc đối tượng tham gia nghiên cứu;

      9. Trong trường hợp đối tượng thiếu năng lực hành vi, việc thông tin và lấy phiếu chấp thuận phải thông qua người có trách nhiệm pháp lý phù hợp theo luật pháp của quốc gia.

      10. Các đối tượng tham gia nghiên cứu được rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào.


      Bác sĩ Cẩm Trúc
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác