• Nguy cơ lây virus viêm gan B sau chọc ối trên thai phụ có HBsAg (+)

      by
      23-02-14, 15:12
      Nguy cơ lây virus viêm gan B sau chọc ối trên thai phụ có HBsAg (+)
      Chọc ối khi tải lượng virus HBV trên 10 triệu bản sao/ml là một yếu tố nguy cơ lây truyền HBV cho con đủ mạnh do vậy cần nghĩ đến việc tránh chọc ối khi tải lượng virus HBV của thai phụ cao trên 10 triệu bản sao/ml.

      Nhân có một trường hợp thai phụ có HBsAg dương tính, có chỉ định chọc ối để chẩn đoán di truyền về bệnh Thalassemia (di truyền gen lặn nhiễm sắc thể thường), chúng tôi được yêu cầu tư vấn về nguy cơ lây truyền virus viêm gan B (HBV) sau thủ thuật chọc ối này. Việc tư vấn này không dễ dàng gì vì điều kiện kinh tế của người thai phụ rất khó khăn, không thể chi trả được cho xét nghiệm tải lượng virus viêm gan B, chưa nói đến việc sử dụng kéo dài thuốc kháng virus (tenofovir, telbivudine) để dự phòng và điều trị. Thông tin về nguy cơ lây truyền HBV sau chọc ối không nhiều. Sau đây chúng tôi lần lượt điểm lại những nghiên cứu đã công bố có liên quan đến vấn đề này (qua tra cứu trên Pubmed).


      Tránh chọc ối khi tải lượng virus HBV của thai phụ cao trên 10 triệu bản sao/ml.

      Từ năm 1980 người ta đã nhận thấy có sự liên quan giữa kháng nguyên HBeAg của người mẹ và khả năng lây truyền HBV cho con. Khuyến cáo khi đó là nếu bà mẹ có HBeAg thì nên mổ đẻ và không khuyến khích việc chọc ối cũng như cho con bú. [1] Tuy nhiên chỉ sau đó 5 năm thì đã có nghiên cứu từ Italy nêu rõ rằng nếu trẻ được dự phòng đầy đủ bằng kháng huyết thanh và vắc xin thì việc mẹ có HBsAg cho con bú không làm tăng nguy cơ lây truyền HBV cho con. [2] Đành rằng việc sử dụng kháng huyết thanh và vắc xin là những biện pháp hữu hiệu làm giảm lây truyền HBV tự mẹ sang con xuống 75-90% [3] nhưng vẫn còn đến 10% số trường hợp không ngăn ngừa được sự lây truyền. Tình trạng HBeAg và tải lượng virus HBV DNA của người mẹ được cho là những yếu tố liên quan chặt chẽ đến sự lây truyền trong tử cung. [4] Ở ngưỡng tải lượng virus 100.000 bản sao/ml, tỷ lệ lây truyền HBV cho con mặc dù đã dùng kháng huyết thanh và vắc xin ngay sau đẻ là 14,4% (so với 4,1% ở những người tải lượng virus thấp hơn 100.000 bản sao/ml). [4] Nhằm tiến tới hạ thấp hơn nữa tỷ lệ lây truyền HBV, tất yếu phải đề cập đến vai trò của thuốc kháng virus (tenofovir hoặc telbivudine) làm giảm tải lượng HBV trong máu. [5]

      Những nghiên cứu đầu tiên tập trung vào nguy cơ lây truyền HBV sau can thiệp chọc ối đã không thấy được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê liên quan đến can thiệp chọc ối. Nghiên cứu bệnh chứng năm 1994 ở Đài Loan [6] trên 35 cặp mẹ-con có chọc ối và 65 trường hợp không chọc ối cho thấy tỷ lệ HBsAg máu cuống rốn là như nhau (2,9% so với 3,1%). Một thống kê tại hai bệnh viện lớn ở Hà Lan từ năm 1982 đến 1989 [7] cũng thấy nguy cơ lây truyền HBV trong tử cung ở những trường hợp chọc ối là thấp. Tương tự như vậy, một theo dõi tiến cứu từ năm 1990 đến năm 1995 ở một bệnh viện tại Mỹ [8] cũng thấy trong số 21 trường hợp chọc ối mà người mẹ có HBsAg (1 người có HBeAg), không có trường hợp nào con nhiễm HBV. Điểm yếu của các nghiên cứu này là cỡ mẫu nhỏ và chưa thể đưa yếu tố tải lượng virus vào trong xét nghiệm và phân tích.

      Trong những năm 2000, các nghiên cứu cũng như những bài tổng thuật đều nhất trí về nguy cơ lây truyền HBV sau chọc ối là thấp. Ví dụ như khuyến cáo năm 2003 của Ban Di truyền học, Hội các nhà Sản phụ khoa Canada [9] nêu rõ “Nguy cơ nhiễm viêm gan B trong thai qua chọc ối là thấp. Tuy nhiên cần phải biết về tình trạng kháng nguyên HBeAg của mẹ khi tư vấn về nguy cơ liên quan đến chọc ối. (II-1C)” và “Đối với những người phụ nữ nhiễm viêm gan B vẫn muốn chọc ối thì phải hết sức tránh đưa kim qua rau thai. (II-1B)”. Đến năm 2010, người ta thận trọng hơn khi nói đến nguy cơ này, “dường như là thấp, nhưng có thể tăng cao ở những người phụ nữ có HBeAg dương tính.” [10]

      Cuối năm 2013, tạp chí Journal of Hepatology đăng tải một nghiên cứu bệnh chứng đầy đủ về nguy cơ lây truyền dọc viêm gan B sau chọc ối [11] trên một cỡ mẫu 63 trẻ chọc ối so với 198 trẻ không chọc ối, lựa chọn từ 642 trẻ có mẹ HBsAg (+). Mặc dù tỷ lệ lây truyền HBV trong nhóm chọc ối cao hơn nhóm chứng (6,35% so với 2,53%) nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p = 0,226). Tuy nhiên khi phân tầng theo mức tải lượng virus HBV thì ở mức tải lượng virus > 10 triệu bản sao/ml, tỷ lệ lây truyền (3/6 so với 3/67) có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,006). Như các tác giả bàn luận, đương nhiên còn có những yếu tố nhiễu ảnh hưởng đến kết quả như sự lây truyền HBV từ người bố qua tinh trùng, tổn thương màng rau trong những trường hợp dọa sảy/đẻ non, những khác biệt giữa hai nhóm bệnh-chứng, không thể phủ nhận là qua nghiên cứu này, chọc ối khi tải lượng virus HBV trên 10 triệu bản sao/ml là một yếu tố nguy cơ lây truyền HBV đủ mạnh để có thể nghĩ đến việc tránh chọc ối khi tải lượng virus HBV cao trên 10 triệu bản sao/ml.

      Tài liệu tham khảo
      1. Wong, V.C., A.K. Lee, and H.M. Ip, Transmission of hepatitis B antigens from symptom free carrier mothers to the fetus and the infant. Br J Obstet Gynaecol, 1980. 87(11): p. 958-65.
      2. de Martino, M., et al., Should hepatitis B surface antigen positive mothers breast feed? Arch Dis Child, 1985. 60(10): p. 972-4.
      3. Lee, P.I., et al., A follow-up study of combined vaccination with plasma-derived and recombinant hepatitis B vaccines in infants. Vaccine, 1995. 13(17): p. 1685-9.
      4. Zhang, W.L., J. Zhao, and W. Li, [Influencing factors of mother-infant vertical transmission of hepatitis B virus]. Zhongguo Dang Dai Er Ke Za Zhi, 2011. 13(8): p. 644-6.
      5. Liaw, Y.-F., et al., Asian-Pacific consensus statement on the management of chronic hepatitis B: a 2012 update. Hepatology International, 2012. 6(3): p. 531-561.
      6. Ko, T.M., et al., Amniocentesis in mothers who are hepatitis B virus carriers does not expose the infant to an increased risk of hepatitis B virus infection. Arch Gynecol Obstet, 1994. 255(1): p. 25-30.
      7. Grosheide, P.M., et al., Early invasive prenatal diagnosis in HBsAg-positive women. Prenat Diagn, 1994. 14(7): p. 553-8.
      8. Alexander, J.M., et al., Risk of hepatitis B transmission after amniocentesis in chronic hepatitis B carriers. Infect Dis Obstet Gynecol, 1999. 7(6): p. 283-6.
      9. Davies, G., et al., Amniocentesis and women with hepatitis B, hepatitis C, or human immunodeficiency virus. J Obstet Gynaecol Can, 2003. 25(2): p. 145-48, 149-52.
      10. Lopez, M. and O. Coll, Chronic viral infections and invasive procedures: risk of vertical transmission and current recommendations. Fetal Diagn Ther, 2010. 28(1): p. 1-8.
      11. Yi, W., et al., Risk of vertical transmission of hepatitis B after amniocentesis in HBs antigen-positive mothers. J Hepatol, 2014. 60(3): p. 523-9.

      ThS. BS. Nguyễn Quốc Thái
      Khoa Truyền nhiễm - Bệnh viện Bạch Mai
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác