• Ngộ độc thuốc gây tê cục bộ

      24-10-15, 02:37
      Ngộ độc thuốc gây tê cục bộ
      Truyền tĩnh mạch dung dịch nhũ tương lipid 20% (ví dụ Intralipid 20%) là một phần không thể thiếu trong điều trị ngộ độc toàn thân do thuốc gây tê cục bộ, và đặc biệt trong trường hợp ngừng tim không đáp ứng với liệu pháp điều trị tiêu chuẩn. ASRA khuyến cáo sử dụng liệu pháp nhũ tương lipid (lipid emulsion therapy) ngay khi có các dấu hiệu đầu tiên của ngộ độc toàn thân do thuốc gây tê cục bộ, sau khi đã xử trí tốt đường thở.

      NGỘ ĐỘC THUỐC GÂY TÊ CỤC BỘ

      A. TỔNG QUAN

      I. NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT TRONG THỰC HÀNH

      Trong hầu hết các trường hợp, gây tê cục bộ rất an toàn, tuy nhiên nó có thể gây ngộ độc nếu được sử dụng không thích hợp. Và ngay cả khi đã được sử dụng thích hợp nhưng vẫn có thể gây ra các phản ứng phụ không mong muốn. Độc tính của thuốc gây tê cục bộ và thuốc gây tê thẩm thấu có thể có tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Phần lớn độc tính toàn thân của thuốc gây tê thường ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương hoặc hệ tim mạch.

      1. Dấu hiệu và triệu chứng

      Các biểu hiện điển hình của ngộ độc thuốc gây tê cục bộ xảy ra từ 1 đến 5 phút sau khi tiêm, nhưng có thể dao động từ 30 giây tới 60 phút[1]. Các biểu hiện độc tính có thể được phân loại như sau:
      + Hệ thần kinh trung ương
      + Hệ tim mạch
      + Hệ tạo máu
      + Dị ứng
      + Mô tại chỗ

      Biểu hiện thần kinh trung ương

      Về kinh điển, ngộ độc hệ thống bắt đầu với các triệu chứng kích thích thần kinh trung ương như:
      + Tê quanh miệng và/hoặc lưỡi.
      + Vị kim loại.
      + Đau đầu nhẹ.
      + Hoa mắt, chóng mặt, choáng váng.
      + Rối loạn thị giác và thính giác (khó tập trung và ù tai).
      + Mất định hướng.
      + Tình trạng ngủ gà.

      Với liều cao hơn, thần kinh trung ương ở trạng thái bị kích thích nhanh chóng chuyển sang trạng thái ức chế, có các biểu hiện sau:
      + Co quắp cơ.
      + Co giật.
      + Bất tỉnh.
      + Hôn mê.
      + Suy hô hấp, ngừng hô hấp.
      + Suy tuần hoàn, ngừng tuần hoàn.

      Biểu hiện tim mạch

      + Đau ngực.
      + Khó thở.
      + Đánh trống ngực.
      + Đau đầu nhẹ.
      + Toát mồ hôi.
      + Hạ huyết áp.
      + Ngất xỉu.

      Biểu hiện huyết học

      Methemoglobin thường gặp ở các trường hợp sử dụng benzocain; tuy nhiên, cũng có trường hợp sử dụng lidocain và prilocain. Ở mức độ thấp (1-3%), methemoglobin có thể không có triệu chứng, nhưng mức độ cao hơn (10-40%) có thể xuất hiện các triệu chứng như:
      + Tím
      + Đổi màu da (xám)
      + Thở nhanh
      + Khó thở
      + Suy giảm khả năng thực hiện bài tập thể dục (exercise intolerance)
      + Mệt mỏi
      + Hoa mắt, ngất xỉu
      + Yếu

      Biểu hiện dị ứng

      + Ban đỏ
      + Mày đay
      + Sốc phản vệ (rất hiếm).

      1.2. Chẩn đoán

      Một bệnh nhân bị nghi ngờ ngộ độc thuốc gây tê cục bộ cần được đánh giá kĩ càng trên lâm sàng. Có thể tiến hành đo nồng độ thuốc gây tê trong máu mặc dù nồng độ trong máu có thể không tương quan với độc tính hoặc lấy máu không đúng thời điểm.

      Việc thực hiện các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cần được chỉ định dựa vào toàn bộ đặc điểm lâm sàng. Ví dụ, nếu một bệnh nhân co giật mà không rõ nguyên nhân, cần cân nhắc cho bệnh nhân chụp cắt lớp vi tính sọ não.

      1.3. Xử trí

      Chú ý nguy cơ đe dọa đường thở, tụt huyết áp, rối loạn nhịp tim và các tiền triệu của co giật. Khi đã loại trừ được các nguyên nhân có thể gây ra những triệu chứng mới của bệnh nhân, hãy bắt đầu tiến hành xử trí các triệu chứng đặc hiệu.

      Xử trí ngộ độc thuốc gây tê cục bộ có thể tiến hành như sau[1]:
      + Kiểm soát đường thở
      + Giảm co giật (benzodiazepin)
      + Xử trí các rối loạn nhịp tim
      + Liệu pháp lipid

      II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

      Trong hầu hết các trường hợp, gây tê cục bộ rất an toàn, tuy nhiên nó có thể gây ngộ độc nếu được sử dụng không thích hợp. Và ngay cả khi đã được sử dụng thích hợp nhưng vẫn có thể gây ra các tác dụng không mong muốn. Các tác dụng phụ thường xuất hiện khi nồng độ chất gây tê cao trong huyết thanh, có thể do các nguyên nhân sau:
      + Vô tình tiêm thuốc vào mạch máu
      + Quá liều thuốc hoặc tốc độ tiêm
      + Thuốc thải trừ chậm
      + Tiêm vào tổ chức nhiều mạch máu

      Các yếu tố về phía bệnh nhân cũng góp phần ảnh hưởng tới độc tính. Ví dụ, lidocain chuyển hoá qua gan, vì vậy suy gan sẽ làm tăng nguy cơ gây độc. Lidocain gắn với protein nên tình trạng protein máu thấp cũng làm tăng nguy cơ. Toan chuyển hoá làm tăng nguy cơ vì góp phần thúc đẩy cho sự phân tách lidocain ra khỏi protein huyết tương. Tương tác với các thuốc khác (như cimetidin, chẹn beta giao cảm) cũng ảnh hưởng tới nồng độ lidocain trong máu.

      Độc tính của thuốc gây tê cục bộ và thuốc gây tê thẩm thấu có thể tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân. Tác dụng phụ của thuốc gây tê cục bộ bao gồm các biểu hiện thần kinh-mạch máu như mất cảm giác kéo dài và dị cảm, thậm chí có thể không phục hồi được.

      Phần lớn độc tính toàn thân của thuốc gây tê thường ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương hoặc hệ tim mạch. Dùng đồng thời với các thuốc khác như benzodiazepin có thể làm lu mờ các triệu chứng thần kinh trung ương, nhưng vẫn có các triệu chứng tim mạch.

      Trường hợp hiếm gặp (< 1%), thuốc gây tê cục bộ có thể ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch, sinh ra phản ứng dị ứng qua trung gian IgE. Phần lớn các trường hợp có liên quan tới sử dụng các chất amino este. Một số thuốc gây tê, điển hình là benzocain, độc với hệ tạo máu, gây methemoglobin.

      Độc tính trên hệ thần kinh trung ương có 2 pha. Pha sớm, thần kinh trung ương bị kích thích với các triệu chứng như co giật. Pha sau có các biểu hiện ức chế thần kinh trung ương như ngừng co giật và xuất hiện mất ý thức, suy hô hấp hoặc ngừng thở.

      Khi nồng độ thuốc gây tê cục bộ cao hơn một chút sẽ bắt đầu tác động tới hệ tim mạch. Những tác động này có thể bao gồm cả rối loạn nhịp tim do vòng vào lại. Nhịp nhanh thất có thể xảy ra trên các bệnh nhân có rối loạn nhịp nhĩ.

      Xử trí ngộ độc thuốc gây tê cục bộ bao gồm[1]:
      + Kiểm soát đường thở
      + Giảm co giật
      + Xử trí các rối loạn nhịp tim
      + Liệu pháp lipid

      Xem tiếp: III. Cơ chế bệnh sinh
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác