• Ngộ độc sâu ban miêu (Cantharis vesicatoria)

      01-07-15, 21:22
      Ngộ độc sâu ban miêu (Cantharis vesicatoria)
      “Nửa tiếng sau khi ăn sâu ban miêu (nhầm là bọ xít), ông Trương Thanh S. (59 tuổi, ở Hà Trung, Thanh Hóa) cùng một cụ ông 70 tuổi khác đều bị đau bụng, nôn, tiêu chảy... Khi nhập Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa cấp cứu thì một bệnh nhân đã tử vong do suy thận, còn ông S. được chuyển lên Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai trong tình trạng thở nhanh, cô đặc máu, suy thận, suy gan, suy tim, tình trạng nhiễm trùng nặng, rối loạn đông máu mức độ nặng, giảm tiểu cầu, đông máu rải rác lòng mạch... Dù đã được cứu chữa nhưng sau 13 tiếng thì bệnh nhân tử vong” – Sức khỏe & đời sống 25.8.2011

      GIỚI THIỆU

      Sâu ban miêu là tên chung của nhiều loại sâu có chung đặc tính gây rộp da và phỏng nước, do thành phần chất tiết chứa một chất hóa học có tên là Cantharidin.Từ thời cổ xưa, do tình cờ phát hiện tác dụng gây cương dương của sâu ban miêu mà sản phẩm từ sâu ban miêu như các loại bột nghiền trộn lẫn với các hóa chất khác được sử dụng như một loại thuốc kích dục từ thời kì Hi Lạp – La mã cổ Đại đến và tiếp tục được sử dụng trong một thời gian dài. Điển hình là vua Henri IV (Henry Bolingbroke,1367-1413) của Anh và vua Louis XIV của Pháp (Louis-Dieudonné; 1638–1715) đã thường xuyên sử dụng sản phẩm tử ruồi Tây Ban Nha – tương tự sâu ban miêu cho đời sống tình dục của mình.

      Tuy nhiên từ khi bắt đầu được đưa vào sử dụng đến nay, đã có nhiều báo cáo về tác dụng có hại khi sử dụng thậm chí tử vong. Một trong những trường hợp tác dụng phụ được ghi nhận sớm nhất có lẽ là Nhà thơ và triết gia La Mã Titus Lucretius Carus (sống trong khoảng từ năm 99 đến 55 tr.CN) bị đồn đã chết vì dùng quá liều Cantharidin từ bọ cánh cứng trước khi quan hệ tình dục. Chính vì điều này, việc sử dụng sâu ban miêu hay Cantharidin với chức năng thuốc chữa bệnh ngày càng hạn chế. Đến nay gần như Cantharidin chỉ còn lại chỉ định duy nhất là sản xuất các thuốc điều trị bệnh ngoài da như trị mụn, u mềm lây, xóa hình xăm. Tuy nhiên ngay cả trong những chỉ định này cả người dùng lẫn bác sĩ chỉ định ngày càng ít ỏi.

      Ở Việt Nam, đặc biệt ở các vùng nông thôn, lâu nay vẫn lưu truyền tin đồn về “bài thuốc quý” ăn sâu ban miêu qua chế biến thường là rang, có thể cải thiện chức năng “sinh lý” của nam giới. Do vậy hầu hết những trường hợp nhập viện gần đây đều ít nhiều liên quan lý do này. Ngoài ra còn có thể do thách thức nhau dám ăn hay không cũng không quá hiếm gặp. Các trường hợp ngộ độc sâu ban miêu ở động vật cũng được báo cáo do động vật ăn cỏ có lẫn sâu ban miêu cũng gây độc tính nghiêm trọng và dẫn đến tử vong. Trong số các loài động vật thì ngựa được cho là rất nhạy cảm với Cantharidin hơn những loài khác.

      Ngộ độc sâu ban miêu là ngộ độc hiếm gặp nhưng rất nặng về và gây khó khăn cho hầu hết các bác sĩ cấp cứu ban đầu khi tiếp xúc với loại ngộ độc này. Vì chưa có phác đồ điều trị thống nhất nên kết quả điều trị rất thay đổi và tùy thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất hiện có cũng như khả năng hồi sức của cơ sở. Tuy nhiên theo ghi nhận từ báo chí gần đây, hầu hết các trường hợp ngộ độc sâu ban miêu đều dẫn đến tử vong.

      Tại trung tâm Chống độc, trong vòng hai năm gần đây chúng tôi ghi nhận được 4 trường hợp ngộ độc sâu ban miêu mức độ rất nặng. Hai trong số đó tử vong, một được cứu sống nhưng kèm theo nhiều biến chứng như suy thận, viêm phổi, viêm gan với chi phí điều trị rất nặng nề. Duy nhất một trường hợp được cứu sống mà không có di chứng gì. Tuy nhiên trong tất cả các trường hợp, không có trường hợp nào có ý kiến “khen ngợi” hiệu quả “trời cho” kia.


      Sâu ban miêu (Cantharis vesicatoria). Ảnh: Wikipedia

      NHẬN DẠNG SÂU BAN MIÊU?

      Sâu ban miêu có tên khoa học là Cantharis vesicatoria còn gọi là manh trùng, ban manh, ban mao. Thực chất là nhiều thứ sâu có cánh cứng, màu xanh lục biếc, dài khoảng 15 - 20mm, ngang 4 - 6mm. Có đầu hình tim, có rãnh dọc ở giữa, râu đen hình sợi. Thân có 11 đốt, giữa đầu và thân có một chỗ thắt lại. Phía trên 2 cánh màu đen có các chấm màu vàng hoặc màu đỏ nhạt; hoặc thân màu vàng với các điểm hay các dải ngang màu đen. Sâu ban miêu thường sống trên các cây đậu, do đó còn có tên là sâu đậu, hoặc sống trên các cây độc khác như cây cà độc dược. Trong khuôn khổ bài viết chúng tôi không đi sâu vào mô tả chế biến sâu ban miêu để thành thuốc như thế nào.

      Thành phần hóa học gây độc trong sâu ban miêu là Cantharidin. Thông thường chỉ con đực mới có thể bài tiết Cantharidin và truyền sang con cái vào mùa sinh sản, con cái sẽ sử dụng chất tiết chứa Cantharidin bọc bên ngoài trứng có tác dụng bảo vệ trứng bằng cách nếu trứng của chúng bị các loại động vật khác dùng làm thức ăn sẽ gây độc cho các loài động vật đó.

      ĐỘC TÍNH CỦA CANTHARIDIN

      Cantharidin được hấp thu bởi lớp lipid của tế bào thượng bì và gây tổn thương hệ thống kết dính giữa các tế bào da niêm mạc với nhau là Desmosome bao gồm 3 thành phần chính là lớp desmoplaskin, sợi keratin bên trong tế bào và sợi cadherin ở khoang gian bào. Hậu quả của quá trình này làm các tế bào mất các cầu nối liên hết với nhau và gọi là hiện tượng li gai (acantholysis). Từ đó hình thành các phỏng nước trên da.

      Ngoài ra Cantharidin được cho là ức chế enzym Phosphodiestease và Protein phosphatase 1, Protein phosphatase 2A là những enzym tham gia vào quá trình chuyển hóa glycogen sinh ATP trong chuỗi hô hấp tế bào khiến tế bào kiệt năng lượng và bệnh nhân rơi vào bệnh cảnh sốc khó hồi phục trong các trường hợp nặng.

      CƠ CHẾ BỆNH SINH

      Sau khi cantharidin tiếp xúc với da hoặc niêm mạc thì gây hiện tượng li gai (acantholysis), da niêm mạc tại vùng tiếp xúc bị tổn thương như bỏng hóa chất, sau đó hình thành phỏng nước và nguy cơ tiến triển thành nhiễm trùng. Đặc điểm này của cantharidin tương tự peridin có trong kiến ba khoang.

      Bỏng niêm mạc đường tiêu hóa do ăn nhầm hoặc cố ý nguy cơ nhiễm trùng cao do thẩm lậu vi khuẩn gram âm đường ruột và kị khí vào ổ bụng và máu.

      Tổn thương tại niêm mạc đường tiêu hóa dẫn đến đau bụng, buồn nôn, nôn và ỉa chảy nhiều. Nặng hơn viêm dạ dày ruột và xuất huyết tiêu hóa. Hậu quả dẫn đến mất nước nghiêm trọng trong lòng mạch dẫn đến suy giảm chức năng thận sớm.
      Cantharidin có thể bài tiết qua đường tiết niệu gây bỏng đường tiết niệu như viêm bàng quang, chảy máu tiết niệu, thương tổn tương tự đương tiêu hóa.

      Ngoài ra vì tác dụng phụ gây tăng tưới máu khu vực tầng sinh môn nên có thể ghi nhận hiện tượng cương dương bất thường.

      Khi không kiểm soát được triệu chứng và biến chứng ban đầu bệnh nhân có thể tiến triển đến các biến chứng nặng hơn như sốc, rối loạn đông máu trong lòng mạch, nhiễm trùng huyết, viêm phổi. Đặc điểm các trường hợp sốc có thể bị tình trạng thiếu ATP làm cho diễn biến nặng và trơ với điều trị hơn.

      Bệnh nhân nếu được điều trị kịp thời sẽ thoát được tình trạng sốc, đảm bảo lưu lượng nước tiểu, phòng và điều trị nhiễm trùng kịp thời. Ngược lại, nếu suy thận tiến triển cũng với tình trạng nhiễm trùng không được kiểm soát, bệnh nhân sẽ tử vong trong bệnh cảnh suy đa tạng với: sốc, rối loạn đông máu, suy thận và khiễm khuẩn nặng nề

      TRIỆU CHỨNG

      Triệu chứng có thể khởi phát nhanh trong một vài giờ hay lâu hơn phụ thuộc vào đường tiếp xúc. Tiếp xúc qua đường tiêu hóa triệu chứng sớm hơn:

      Ngộ độc nhẹ và trung bình

      - Da: Bỏng da, phỏng nước, cảm giác dát bỏng, kích thước phỏng nước có thể khác nhau. Có thể nhiễm trùng khi phỏng nước vỡ

      - Tiêu hóa:
      + Ngay sau khi ăn vài phút có thể cảm giác bỏng rát tỏng miệng họng
      + Buồn nôn và nôn nhiều kèm ỉa chảy dữ dội có thể xuất hiện sớm
      + Đau bụng dữ dội có thể nhầm với đau bụng ngoại khoa
      + Nặng có thể biểu hiện xuất huyết tiêu hóa nghiêm trọng

      - Tiết niệu:
      + Các triệu chứng cơ năng có thể gặp như tiểu khó, tiểu buốt.
      + Giai đoạn đầu có thể thấy nước tiểu sẫm màu do tiêu cơ vân hoặc đái máu
      + Suy thận đến sớm phụ thuộc vào tổn thương tại đường tiết niệu và mức độ mất dịch qua đường tiêu hóa

      Ngộ độc nặng:

      - Bệnh nhân sau khi có các biểu như trên thì xuất hiện
      + Sốc
      + Toan chuyển hóa, rối loạn đông máu kiểu DIC
      + Sepsis (nhiễm khuẩn)

      Nguyên nhân tử vong: sốc, suy đa tạng, chảy máu nội tạng do rối loạn đông máu nặng, nhiễm trùng từ đường tiêu hóa, nhiễm trùng bệnh viện.

      ĐIỀU TRỊ

      Nguyên tắc điều trị

      - Không có chất giải độc đặc hiệu cho cantharidin. Điều trị hỗ trợ và hồi sức là quan trọng nhất.

      - Điều trị sớm tiên lượng tốt hơn nhiều so với đến muộn

      - Đích điều trị quan trọng nhất: tối ưu hóa chức năng thận, tránh được tính trạng sốc, dự phòng nhiễm trùng và điều trị sớm – đúng nhiễm trùng khi nếu có

      Những điểm lưu ý khi điều trị thực tế:

      - Đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, truyền dịch đủ và cân nhắc cho lợi tiểu phù hợp được coi là điều trị quan trọng nhất.

      - Cho kháng sinh sớm chú ý đến vi khuân đường tiêu hóa (gram âm, kị khí)

      - Hạn chế tối thiểu việc truyền các chế phẩm máu. Chỉ truyền khi thật cần thiết. Tránh làm nặng thêm tình trạng rối loạn đông máu, và tổn thương phổi cũng như quá tải dịch do truyền máu.

      - Tiên lượng ngộ độc sâu ban miêu nặng khi bệnh nhân có các dấu hiệu sau:
      + Bỏng da và niệm mạc mức độ nhiều. Protein và albumin máu giảm nặng
      + Suy thận sớm đặc biệt có kèm theo thiểu niệu, vô niệu
      + Toan chuyển hóa và sốc làm giảm cơ hội sống sót một cách đáng kể
      + Nhiễm trùng nếu xuất hiện thường làm tiến triển bệnh tồi đi nhanh chóng.

      ThS. BS. Nguyễn Đàm Chính
      Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác