• Một ca U tuỵ nội tiết (Insulinoma) được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

      by
      20-05-14, 18:02
      Một ca U tuỵ nội tiết (Insulinoma) được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
      Từ thế kỷ XIX, nhiều trường hợp hạ đường huyết đã được ghi nhận. Tuy nhiên cho đến đầu thế kỷ 20, khi insulin được ứng dụng để điều trị tiểu đường thì biểu hiện lâm sàng này mới được xác định vì nó rất giống biểu hiện quá liều insulin. Quan sát đã giúp các nhà lâm sàng xác định và gọi tên căn bệnh là cường insulin.

      CA LÂM SÀNG

      Bệnh nhân Bùi Thị Q. 53 tuổi, đến từ Hà Tĩnh, vào viện vì có cơn hạ đường huyết.

      Từ gần 10 năm nay bệnh nhân thường xuyên có cơn thỉu trong ngày, thời điểm xa bữa ăn, tình trạng được giải quyết sau khi bệnh nhân được uống một cốc nước đường. Từ 2 tháng đây bệnh nhân tăng cân rất nhiều từ 45 kg lên 75 kg. Bệnh nhân đã đi khám ở nhiều bệnh viện trong TP. HCM.


      Bệnh nhân tăng cân rất nhanh từ 2 tháng gần đây (30 Kg)

      Lần này bệnh nhân đến khám ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, qua thăm khám lâm sàng, xét nghiệm trong đó có cắt lớp vi tính (CLVT) ổ bụng có thuốc cản quang. Bệnh nhân được chẩn đoán là u tuỵ nội tiết (insulinoma) vùng móc tuỵ.


      Hình ảnh khối u tuỵ nội tiết trên CLVT ổ bụng

      Theo PGS.TS. Vũ Bích Nga, chuyên khoa nội tiết, P.Trưởng khoa Nội tổng hợp Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết: u tuỵ nội tiết thường khó chẩn đoán, về lâm sàng thường biểu hiện bằng những cơn hạ đường huyết khi đói (vã mồ hôi, bủn rủn chân tay, chóng mặt, thỉu), về xét nghiệm cần định lượng insulin máu, tính chỉ số insulin/đường máu đồng thời; về hình ảnh học có thể làm siêu âm bụng, chụp CLVT hoặc cộng hưởng từ tuỵ tạng, bên cạnh đó có thể làm siêu âm nội soi.

      Sau khi hội chẩn với chuyên khoa ngoại, bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật lấy khối u. Cùng với kíp gây mê hồi sức và phẫu thuật viên, TS. Kim Văn Vụ, P.Trưởng khoa ngoại tổng hợp đã phẫu thuật thành công sau sau 1,5 giờ đồng hồ. Bác sĩ có có nhiều năm kinh nghiệm về phẫu thuật bụng này mô tả: “Bệnh nhân được mổ mở, chúng tôi phẫu tích bộc lộ tổn thương vùng móc tuỵ ngay dưới đoạn DIII tá tràng, và bóc một khối u chắc, kích thước 15x13x13mm.Tuỵ được kiểm tra kỹ, đây là một trường hợp u đơn độc, khối u được lấy gọn”.


      Hình ảnh toàn bộ khối u tuỵ nội tiết được lấy bỏ

      Hiện tại bệnh nhân sau mổ lấy u tuỵ nội tiết ngày thứ 2 ổn định. Bệnh nhân tiếp tục được chăm sóc và điều trị hậu phẫu tại khoa ngoại. Sau đó bệnh nhân được khám và theo dõi bởi bác sĩ chuyên khoa nội tiết của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

      TÓM TẮT KHUYẾN CÁO VỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U TỤY NỘI TIẾT (UPTODATE 2014)

      Từ thế kỷ XIX, nhiều trường hợp hạ đường huyết đã được ghi nhận. Tuy nhiên cho đến đầu thế kỷ 20, khi insulin được ứng dụng để điều trị tiểu đường thì biểu hiện lâm sàng này mới được xác định vì nó rất giống biểu hiện quá liều insulin. Quan sát đã giúp các nhà lâm sàng xác định và gọi tên căn bệnh là cường insulin.

      Bệnh cảnh lâm sàng

      U tuỵ nội tiết (Insulinoma) là một thể hiếm của u tế bào tiểu đảo tuỵ không có đặc tính chủng tộc (tỷ lệ mới mắc 1/250 000 ca-năm); đa số các trường hợp là u lành tính đơn độc, một số trường hợp nằm trong bệnh cảnh hội chứng cận u nội tiết nhiều nơi (MEN1, multiple endocrine neoplasia) týp 1. Biểu hiện lâm sàng của U tuỵ nội tiết là hạ đường huyết khi đói (có một số bệnh nhân hạ đường huyết sau ăn).

      Chẩn đoán

      Chẩn đoán được xác lập khi có sự không tương thích giữa nồng độ insulin máu rất cao, khi bệnh nhân bị hạ đường máu tự nhiên hoặc khi nhịn ăn (vd, hạ đường máu khi làm nghiệm pháp nhịn đói 72h, hoặc hạ đường máu sau ăn khi làm nghiệm pháp hỗn hợp).

      Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh dùng để xác định vị trí khối u. Khối u cần được định vị chính xác trước khi phẫu thuật. Siêu âm bụng và CLVT thường là những thăm dò được lựa chọn đầu tiên, sau đó là siêu âm nội soi qua tá tràng. Nếu các kỹ thuật không xâm lấn không định vị được khối u, thì người ta có thể luồn dây dẫn để lấy mẫu máu tĩnh mạch gan ở các vị trí khác nhau sau đó định lượng insulin để xác định tại vị trí nào tuỵ tiết nhiều insulin.

      Điều trị

      - Với u tuỵ nội tiết lành tính đơn độc, khuyến cáo phẫu thuật lấy bỏ khối u (Grade 1A). Cách tiếp cận hoặc phẫu thuật rộng rãi phụ thuộc vào định vị khối u.

      - Với u tuỵ nội tiết đa ổ (điển hình ở hội chứng cận u nội tiết nhiều nơi, MEN1), khuyến cáo cắt tất cả các u được tìm thấy ở đầu tuỵ và cắt bán phần đuôi tuỵ (Grade 2B).

      - Ở bệnh nhân vẫn còn hạ đường huyết dai dẳng sau mổ cắt u đơn độc hoặc nhiều u được định vị, khuyến cáo phẫu thuật lại (Grade 1A).

      - Với bệnh nhân có u tuỵ nội tiết không thể định vị được khối u ở tuỵ, không thể khẳng định là có hay không phẫu thuật, gợi ý dùng thuốc diazoxide để điều trị hạ đường máu (Grade 2C).

      - Nếu bệnh nhân u tuỵ nội tiết có khả năng di căn gan đơn độc, khuyến cáo phẫu thuật cắt ổ di căn gan và cắt khối u nguyên phát (Grade 1B). Dù hầu hết các trường hợp không chữa hoàn toàn được bằng phẫu thuật thì cũng giúp làm chậm phát triển khối u, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

      - Những trường hợp u tuỵ nội tiết di căn gan không phẫu thuật được, có thể lựa chọn phương pháp điều trị khác như nút mạch, nút mạch tiêm hoá chất, đốt bằng sóng cao tần, cắt u bằng cryo.

      - Hiệu quả của dẫn chất somatostatin ở bệnh nhân kháng hạ đường huyết kháng diazoxide chưa được nghiên cứu, ở một vài bệnh nhân có thể có hiệu quả. Octreotide, cũng như một số thuốc khác (interferon, hoá trị liệu, xạ trị đích) cũng được thảo luận.

      Tham khảo:
      (F John Service, MD, PhD, Insulinoma, This topic last updated: Jan 15, 2014)

      TS. BS. Hoàng Bùi Hải
      Bộ môn Hồi sức Cấp cứu, Đại học Y Hà Nội
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác