• Lao phổi ở trẻ em: Phát hiện và điều trị sớm các trường hợp Lao sơ nhiễm

      17-10-14, 17:47
      Lao phổi ở trẻ em: Phát hiện và điều trị sớm các trường hợp Lao sơ nhiễm
      Theo ước tính của WHO (2012), hàng năm trên tòan thế giới có gần 9 triệu trường hợp mắc mới và 1,3 triệu người chết do Lao, trong đó trên 95% số trường hợp mắc mới và tử vong xảy ra ở các nước đang phát triển (đặc biệt tại Châu Á và Châu Phi). Đáng chú ý là hàng năm có khoảng 530.000 trường hợp mắc mới và 74.000 trường hợp tử vong do Lao ở trẻ em.

      LAO PHỔI Ở TRẺ EM

      Phát hiện và điều trị sớm các trường hợp Lao sơ nhiễm

      I. TỔNG QUAN

      - Lao không phải là thuật ngữ mới lạ, đó là bệnh truyền nhiễm được phát hiện từ rất lâu trên thế giới nhưng luôn là vấn đề KHẨN CẤP trên toàn cầu. Lao phổi chiếm 80%, còn lại 20% Lao ngoài phổi (Lao màng não, Lao màng bụng…)

      - Theo ước tính của WHO (2012): hàng năm trên tòan thế giới có gần 9 triệu cas mắc mới và 1,3 triệu người chết do Lao, trong đó trên 95% số trường hợp mắc mới và tử vong xảy ra ở các nước đang phát triển (đặc biệt tại Châu Á và Châu Phi). Đáng chú ý là hàng năm có khoảng 530.000 trường hợp mắc mới và 74.000 trường hợp tử vong do Lao ở trẻ em.

      - Nhân ngày thế giới phòng chống Lao năm nay (22/03/2014), WHO báo động còn có 3 triệu người nhiễm Lao chưa tiếp cận được các dịch vụ Y tế, cùng với các vấn đề gian nải khác như Lao kháng thuốc và Lao bùng phát trở lại cùng với đại dịch HIV/AIDS kể từ năm 1985.

      - Không có gì đáng tự hào khi Việt Nam giữ vị trí số 13 trong tổng số 22 nước có số bệnh nhân Lao cao nhất thế giới! Vì vậy, đã đến lúc cần chú ý đến vấn đề TẦM SOÁT các trường hợp PHƠI NHIỄM, PHÁT HIỆN và ĐIỀU TRỊ SỚM MỘT CÁCH HỆ THỐNG các cá thể NHIỄM LAO ở nước ta, nhằm tránh chuyển sang bệnh Lao, giúp giảm gánh nặng cho cộng đồng liên quan đến điều trị, chăm sóc, và giảm tỷ lệ tử vong do Lao.

      - Tuy chẩn đoán gặp nhiều khó khăn ở trẻ em, điều trị nặng nề và kéo dài nhưng Lao là bệnh chữa khỏi được và là bệnh phòng tránh được bởi vaccine BCG và các biện pháp khác.

      II. SINH LÝ BỆNH

      - Bệnh Lao do trực khuẩn Lao (bacille de Koch, viết tắt là BK), tên khoa học là Mycobacterium tuberculosis gây ra, là trực khuẩn hình que kháng cồn kháng toan (BAAR: Bacilles-Acido-Alcoolo-Résistants), bắt màu đỏ hồng trên tiêu bản nhuộm Ziehl Neelsen.

      - Trực khuẩn Lao có khả năng tồn tại nhiều năm ở các mô sâu trong cơ thể, trước khi gây bệnh Lao.


      Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

      - Bệnh lây truyền qua đường hô hấp: Trẻ hít phải BK trong môi trường xung quanh chúng, bị bắn ra từ người lớn bị Lao phổi khi ho, hắt hơi hoặc khạc đờm (thường là ông bà, bố mẹ, người thân sống cùng nhà với trẻ đang mắc Lao phổi tiến triển…). Vi khuẩn lơ lửng trong không khí, chỉ cần hít vài BK đã có thể có khả năng nhiễm Lao, tuy nhiên 90% trường hợp cơ thể tự đào thải hoàn toàn, chỉ 10% nhiễm lao tiềm ẩn.

      - Sau khi hít vào phổi, BK tự nhân lên chậm chạp trong phế nang, dưới dạng các đám mờ tròn nhỏ, chính là các phức hợp nguyên thủy (nodule primaire), khu trú chủ yếu ở nhu mô phổi (trên 95%). Nhờ hiện tượng thực bào bởi các đại thực bào ở phế nang, BK được đào thải ra khỏi cơ thể; hoặc BK được luân chuyển theo đường bạch huyết cạnh phế quản đến các hạch trung thất, tạo đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào T. Giai đoạn tiền dị ứng này (phase antéallergique) kéo dài trung bình khoảng 6 tuần, hoàn toàn không có triệu chứng gì trên lâm sàng và cũng chưa có phản ứng miễn dịch với tuberculine.

      - Sau đó, có các tình huống xảy ra:
      + Không hoặc chưa tiến triển thành bệnh Lao: Sự nhân lên của BK được kiểm soát hiệu quả bởi đáp ứng miễn dịch đặc hiệu trong cơ thể. Do đó, không có triệu chứng lâm sàng cũng như không có triệu chứng Xquang; gọi là Nhiễm lao tiềm ẩn (Infection tuberculeuse latente), được xác định bởi phản ứng Mantoux (IDR à la tuberculine) dương tính và/hoặc xét nghiệm miễn dịch tìm sự giải phóng Interféron Gamma dương tính (tests de détection la production d’Interféron gamma, viết tắt là IGRAs-Interféron gamma release assays)
      + Nhân lên nhiều lần trong hạch kèm hoại tử trung tâm (caséum), nguy cơ lan tỏa theo đường máu, phát tán vào phổi và hiếm gặp hơn là trong các tổ chức khác như màng não, xương, thận…, tạo nên các tổn thương khu trú hoặc dạng Lao kê. Giai đoạn này gọi là Bệnh Lao (tuberculose maladie), được xác định khi có triệu chứng trên lâm sàng và/hoặc trên Xquang phổi và/hoặc Vi sinh (soi trực tiếp, cấy BK hoặc PCR) dương tính. Trong trường hợp này, lây nhiễm thường xảy ra, mức độ lây nhiễm càng cao khi tổn thương càng nặng.
      + Phức hợp nguyên thủy có thể biến mất (tự đào thải) hoặc ngược lại tăng kích thước, thâm nhiễm vào nhu mô phổi cạnh chúng và/hoặc màng phổi gây lao phổi, lao màng phổi.

      III. YẾU TỐ NGUY CƠ MẮC BỆNH LAO

      Cần biết rõ các yếu tố nguy cơ này để thực hiện tốt việc PHÁT HIỆN các trường hợp Nhiễm lao tiềm ẩn, từ đó có kế hoạch điều trị thích đáng, nhằm tránh chuyển sang giai đoạn bệnh Lao.

      Phơi nhiễm với nguồn lây là điều kiện thiết yếu để gây nhiễm lao ở trẻ.
      Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh Lao:

      1. Liên quan đến bản thân trẻ

      - Tuổi: Trẻ < 5 tuổi, đặc biệt trẻ < 2 tuổi, càng nhỏ càng dể mắc bệnh

      - Suy giảm miễn dịch (bẩm sinh hay mắc phải, đặc biệt trẻ nhiễm HIV/AIDS)

      - Suy dinh dưỡng (là yếu tố nguy cơ chính ở các nước đang phát triển), đái tháo đường, suy thận…

      - Trẻ chưa được tiêm phòng lao

      - Cơ địa: Nhóm HLA-II (HLA-DR7, DR5, DR6, DR2) và gène NRAMP1

      - Trẻ sống trong điều kiện kinh tế, xã hội thấp kém (nhà ở chật chội, ẩm thấp…)

      - Trẻ dậy thì hút thuốc lá hoặc trẻ nhỏ hít phải khói thuốc lá bị động.

      2. Liên quan đến nguồn lây

      - Có mức độ lây nhiễm mạnh (có hang lao trên Xquang phổi, BAAR +++ ở xét nghiệm soi trực tiếp…)

      3. Liên quan đến điều kiện phơi nhiễm

      - Trẻ tiếp xúc thường xuyên, trực tiếp (trên 2 giờ trong ngày và ngủ chung giường, chung phòng với người lây bệnh)

      III. CHẨN ĐOÁN LAO PHỔI

      Vài điểm đáng lưu ý trong bệnh Lao ở trẻ em:

      - Chẩn đoán Lao phổi ở trẻ em, nhất là ở trẻ nhỏ, gặp nhiều khó khăn vì các lý do sau đây:
      + Triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu,
      + Phản ứng Mantoux âm tính giả,
      + Xquang phổi không đặc hiệu,
      + Tỷ lệ tìm thấy BK trong bệnh phẩm rất thấp,
      + Nội soi phế quản chỉ tiến hành được tại các cơ sở y tế chuyên sâu,
      + Bác sỹ không nghĩ đến Lao phổi (Chúng ta chỉ thấy những gì chúng ta tìm…)

      - Trẻ bị nhiễm lao tiềm ẩn dưới 5 tuổi (đặc biệt trẻ < 2 tuổi) có nguy cơ cao chuyển thành bệnh Lao.

      - Lao thể nặng thường gặp ở trẻ nhũ nhi và trẻ dậy thì.

      Điển hình, chẩn đoán Lao phổi khi trẻ có triệu chứng lâm sàng, có tiếp xúc với nguồn lây (BAAR dương tính), phản ứng Mantoux dương tính và có hình ảnh hạch trung thất trên Xquang phổi.

      Trong trường hợp không rõ nguồn lây, gợi ý chẩn đoán khi Viêm phế quản phổi dai dẳng không đáp ứng với kháng sinh thông thường, sốt nhẹ dai dẳng và gầy sút cân không rõ nguyên nhân ở trẻ có nguy cơ bị Lao.

      Trong thực hành lâm sàng, cần nhập viện các trường hợp nghi ngờ Lao phổi nhằm tiến hành các xét nghiệm cần thiết.

      Cách ly hô hấp các bệnh nhân Lao phổi có nguy cơ lây nhiễm cao, ít nhất là trong 15 ngày đầu của điều trị tại Bệnh viện.

      Chẩn đoán Lao phổi dựa vào các phương tiện sau:
      + Lâm sàng
      + Miễn dịch học: IDR à la tuberculine ; IGRAs ; định lượng ADA (Adénosine désaminase)
      + Vi sinh: tìm VK lao trong dịch dạ dày; PCR lao
      + Chẩn đoán hình ảnh: Xquang phổi thẳng và CT scan ngực
      + Nội soi phế quản

      1. Lâm sàng

      - Đa dạng, không đặc hiệu bởi chúng phản ánh các mức độ đáp ứng miễn dịch khác nhau tùy từng cá thể nhiễm Lao.

      - Trẻ càng nhỏ thì biểu hiện lâm sàng càng rõ, đặc biệt trẻ dưới 2 tuổi.

      - Không có triệu chứng gì trong 50 % trường hợp bị Lao.

      - Các triệu chứng không đặc hiệu có thể gặp:

      Triệu chứng toàn thân:
      + Sốt: sốt nhẹ kéo dài, thường là sốt về chiều hoặc đêm;
      + Ra mồ hôi về đêm.
      + Gầy, sút cân từ từ trong thời gian dài.
      + Trẻ mệt mỏi, biếng ăn.
      + Thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt.

      Triệu chứng về hô hấp:
      + Ho khan, ho kéo dài: Nếu trẻ ho khan kéo dài kèm sốt nhẹ kéo dài trên 3 tuần thì cần chụp Xquang phổi và làm các xét nghiệm khác tìm trực thuẩn lao.
      + Ho khạc đờm trắng, dùng kháng sinh thông thường không hiệu quả ở trẻ lớn.
      + Ho máu: số lượng từ ít (đờm lẫn máu, dây máu) tới khạc máu nhiều (> 200ml/ngày), có thể gặp ở trẻ lớn.
      + Khó thở, suy hô hấp: thường do tổn thương lan rộng hoặc do tràn dịch màng phổi. Ở trẻ nhỏ: hạch phế quản to ra, chèn ép làm tắc nghẽn đường thở gây xẹp phổi hoặc ứ khí phổi. Nhóm hạch này có thể hoại tử trung tâm, tự vỡ vào phế quản hoặc khí quản, dẫn đến nguy cơ ngạt thở cấp.
      + Khám phổi: ran ẩm, ran nổ vùng tổn thương, thường khu trú, tiếng thở rít khu trú (hiếm gặp).

      2. Miễn dịch học

      a. Phản ứng Mantoux (Intradermoréaction à la Tuberculine)

      - XN cơ bản để tầm soát bệnh nhi Nhiễm lao (Trẻ được chẩn đoán Lao sơ nhiễm khi IDR à la Tuberculine và/hoặc IGRAs dương tính mà không có triệu chứng Lâm sàng hay Xquang)

      - Test âm tính không loại trừ được nhiễm lao vì có các trường hợp âm tính giả liên quan đến kỹ thuật tiêm, tình trạng suy giảm miễn dịch của bệnh nhi.

      - Đọc kết quả sau 72 giờ, phân tích kết quả dựa trên các yếu tố : BN có tiêm phòng lao hay chưa ? Bệnh cảnh lâm sàng ? và kích thước chỗ hóa cứng (chỗ gờ lên có thể sờ được)

      - Trong mọi trường hợp : khẳng định là Lao nếu có phản ứng IDR dạng nốt phồng nước (IDR phlycténulaire) hoặc có sự chuyển đổi dương tính của test (nghĩa là kích thước tăng lên 10 mm giữa hai test thực hiện cách nhau 2 hoặc 3 tháng).

      Bảng phân tích kết quả IDR à la Tuberculine: dương tính khi
      Trẻ chưa tiêm phòng Lao
      IDR ≥ 10 mm (hoặc có nốt phồng nước)
      IDR ≥ 5 mm nếu có nguy cơ cao bị nhiễm lao (tiếp xúc gần với BN có hang lao và/hoặc BAAR (+++)
      Trẻ được tiêm phòng Lao IDR ≥ 15 mm (hoặc có nốt phồng nước)
      IDR ≥ 10 mm nếu có nguy cơ cao bị nhiễm lao (tiếp xúc gần với BN có hang lao và/hoặc BAAR (+++)

      b. Test Interféron gamma (Interferon-gamma release assays-IGRAs)

      - Tests IGRA cho phép phát hiện chất tiết của cytokines, đặc biệt là IFN gamma được kích thích bởi các dị nguyên trong ống nghiệm của Lymphocytes T ở bệnh phẩm máu.

      - XN này chỉ cần 1 lần thăm khám và 1 lần lấy máu nhưng giá thành đắt. Chúng rất đặc hiệu vì không bị ảnh hưởng bởi BCG và các mycobactéries non-tuberculoses và rất nhạy cảm ngay cả ở trẻ em và cá thể bị suy giảm miễn dịch.

      - Ở Pháp, từ năm 2011, test IGRA được khuyến cáo sử dụng tầm soát nhiễm lao ở trẻ nhiễm VIH, trẻ > 5 tuổi và trẻ nhập cư từ 5 đến 15 tuổi và giúp chẩn đoán bệnh Lao ở trẻ nhỏ.

      - Hiện trên thị trường (ở Pháp và các nước Châu âu khác) có 2 tests IGRAs: Quanti FERON-TB và T-SPOT.TB

      c. Định lượng Adénosine désaminase (ADA)

      - Trong dịch màng phổi, độ nhạy 92%, độ đặc hiệu 90%, thường sử dụng cho chẩn đoán lao ở bệnh nhân nhiễm VIH.

      - Có ý nghĩa chẩn đoán trong lao màng bụng

      3. Vi sinh

      - Có giá trị khẳng định bệnh Lao và mức độ lây nhiễm bệnh.

      - Soi trực tiếp (dương tính thấp, chỉ dưới 20% cas), cấy và PCR Lao trong bệnh phẩm : dịch dạ dày, dịch rửa phế nang khi nội soi phế quản hoặc dịch tiết đường hô hấp (trẻ tự khạc hoặc hút dịch hầu họng sau khí dung 200 µg Salbutamol và nước muối ưu trương 5%)

      - Bệnh phẩm thường dùng trong Nhi khoa là dịch hút dạ dày (aspiration gastrique) : vì trẻ nuốt chất tiết từ đường hô hấp trong lúc ngủ, do vậy BK có độ tập trung cao trong dạ dày, nhắc lại là thành VK kháng acid và enzyme trong dịch dạ dày. Cần hút dịch dạ dày vào buổi sáng sớm, lúc trẻ mới ngủ dậy và lúc đói (trẻ chưa ăn gì), trong 3 ngày liên tiếp tại bệnh viện. Có thể bơm thêm nước muối sinh lý khi hút bệnh phẩm nếu dịch dạ dày quá ít.

      - Cấy bệnh phẩm khó khăn: cần môi trường nuôi cấy đặc biệt, BK mọc chậm: trung bình 2-4 tuần, tỷ lệ dương tính tối đa chỉ 50% trong lao phổi ở trẻ em. Do vậy, PCR lao rất cần thiết cho chẩn đoán, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và trẻ suy giảm miễn dịch vì chúng thường có phản ứng Mantoux âm tính giả. Vì PCR rất nhạy, dương tính trong 60-80 cas, khi có 1-10 BK/1ml bệnh phẩm.


      Hình ảnh cấy BK. Nguồn: Internet)

      4. Chẩn đoán hình ảnh

      - Hình ảnh đa dạng, phản ánh cơ chế bệnh sinh của Lao:
      + lan tỏa theo đường phế quản => hình ảnh khu trú
      + lan tỏa theo đường máu => tổn thương cả 2 phế trường (lao kê).

      - Có thể gặp : tổn thương hạch, tổn thương nhu mô phổi, tràn dịch màng phổi và hình ảnh lao kê.

      - Xquang phổi : thường gặp nhất là hình ảnh hạch trung thất một bên (75% cas) : rốn phổi, cạnh khí quản phải và cạnh động mạch chủ trái. Ở trẻ nhỏ, hạch trung thất đôi khi phát triển mạnh dạng giả u và gây tắc nghẽn đường hô hấp : ứ khí phổi một bên và xẹp phổi. Hình ảnh hạch trung thất tồn tại khá lâu mặc dù điều trị thích đáng, hàng tháng đến hàng năm. Do vậy, sự tồn tại dai dẳng của chúng không có nghĩa là điều trị thất bại.

      - Sự thâm nhiễm nhu mô phổi thường đông đặc và đồng nhất, thường gặp ở thùy giữa hoặc đỉnh phổi trái.

      - Hình ảnh Lao kê : thường gặp ở trẻ nhũ nhi, nhiều nốt mờ nhỏ, đồng đạng, phân bố cả 2 phế trường, ở nhu mô phổi. Xquang đôi khi khó phân tích, cần chụp CTScan phổi để thấy rõ tổn thương.


      Lao kê

      - Ở trẻ dậy thì: tổn thương trên Xquang giống như ở người lớn: thâm nhiễm đỉnh phổi và hang lao ; có khả năng lây nhiễm mạnh.

      - Scanner ngực: chỉ định khi phân tích Xquang khó khăn cho chẩn đoán hoặc cần thiết cho can thiệp điều trị.


      5. Nội soi phế quản

      - Cho phép quan sát trực tiếp tổn thương bệnh lý trong phế quản phổi

      - Hình ảnh gợi ý Lao : chèn ép từ bên ngoài, u hạt (granulome), hoại tử bã đậu tắc nghẽn (caséum obstructif)


      Hình ảnh tổn thương lao trên nội soi phế quản

      - Nội soi giúp cho chẩn đoán bệnh (lấy bệnh phẩm là dịch rửa phế quản, sinh thiết…) : cần chỉ định nội soi cho tất cả trẻ nghi ngờ lao phổi có Xquang bất thường.

      - Nội soi giúp điều trị bệnh:
      + Chỉ định Corticoides nếu tắc nghẽn phế quản > 50 % và Lao kê kém dung nạp (khó thở, thiếu oxy máu): Prednisone 1- 2mg/kg/ngày trong 2-4 tuần rồi giảm liều
      + Chỉ định cắt bỏ u chèn ép (résection endoscopique)
      + Theo dõi tiến triển bệnh

      IV. TẦM SOÁT NHIỄM LAO, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG LAO SƠ NHIỄM :

      1. Vì sao phải tầm soát nhiễm lao?

      - Mục đích : Tránh chuyển thành bệnh lao, đặc biệt trẻ nhỏ dưới 2 tuổi

      2. Tầm soát cho ai?

      - Cho tất cả các thành viên trong gia đình có tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân bị lao phổi

      - Cho tất cả các trẻ tiếp xúc thường xuyên, trực tiếp (trên 2 giờ trong ngày và ngủ chung giường, chung phòng) với nguồn lây.

      3. Ai thực hiện việc tầm soát?

      - Bác sỹ Nhi khoa, Bác sỹ gia đình, Bác sỹ ở Bệnh viện

      - Trung tâm phòng chống Lao

      4. Tiến hành như thế nào? các bác sĩ sẽ:

      - Xác định rõ các yếu tố mắc bệnh lao: liên quan đến bản thân trẻ, liên quan đến nguồn lây, liên quan đến điều kiện lây nhiễm (xin xem mục III)

      - Khám lâm sàng

      - Làm phản ứng Mantoux hoặc tests IGRAs

      - Chụp Xquang phổi thẳng và nghiêng nếu trẻ dưới 5 tuổi.

      5. Chẩn đoán Lao sơ nhiễm?

      - Khi IDR à la Tuberculine và/hoặc tests IGRAs dương tính mà không có triệu chứng trên lâm sàng hay trên Xquang phổi.

      6. Điều trị dự phòng ra sao?

      - Chỉ định:
      + Cho tất cả trẻ phơi nhiễm có nguy cơ cao chuyển thành bệnh Lao ngay cả khi chúng không có triệu chứng ban đầu của nhiễm lao : trẻ < 2 tuổi, trẻ suy giảm miễn dịch, trẻ mắc bệnh mạn tính (suy thận mạn, đái tháo đường…)
      + Cho tất cả trẻ phơi nhiễm được chẩn đoán lao sơ nhiễm

      - Phác đồ điều trị (nguồn lây nhạy cảm thuốc chống lao):
      + Phối hợp: Isoniazide 10 (10-15mg/kg/ngày) + Rifampicine 15 (10-20 mg/kg/ngày)
      + Uống 1 lần vào buổi sáng, lúc đói
      + Thời gian: 3 tháng
      + Theo dõi điều trị : tái khám hàng tháng, dặn bố mẹ theo dõi kỹ các dấu hiệu ngộ độc thuốc chống lao như: đau bụng, nôn ói, vàng da thì cần tái khám ngay.

      7. Theo dõi trẻ phơi nhiễm, Xquang phổi bình thường, phản ứng Mantoux âm tính và không có triệu chứng lâm sàng:

      - Hẹn tái khám sau 8 tuần để làm lại phản ứng Mantoux và chụp Xquang phổi

      V. ĐIỀU TRỊ

      - Nguyên tắc căn bản trong điều trị lao:
      + Phối hợp các thuốc chống lao.
      + Dùng thuốc đúng liều lượng, đủ thời gian.
      + Phải tuân thủ điều trị, dùng thuốc phải liên tục.
      + Điều trị theo hai giai đoạn: tấn công và duy trì.

      - Cách ly hô hấp các bệnh nhân Lao phổi có nguy cơ lây nhiễm cao, ít nhất là trong 15 ngày đầu trong đợt điều trị tại Bệnh viện.

      - Trẻ không được đến trường cho đến khi có giấy xác nhận của Bác sỹ điều trị là trẻ không còn khả năng lây nhiễm nữa.

      - Phác đồ:
      + Thuốc chống Lao:
      Lựa chọn hàng đầu:
      o I= Isoniazide 10 (10-15mg/kg/ngày)
      o R=Rifampicine 15 (10-20 mg/kg/ngày)
      o P= Pyrazinamide 35 (30-40 mg/kg/ngày)
      o E=Ethambutol 20 (15-25 mg/kg/ngày)
      Lựa chọn thứ phát (cho các trường hợp kháng thuốc):
      o Ethionamide
      o Acide para-aminosalycilique (PAS)
      o Linézolide
      o Lévofloxacine
      o Moxifloxacine
      o Cycloserine
      o Aminosides: amikacine/kanamycine/streptomycine
      + Uống 1 lần vào buổi sáng, lúc đói
      + Theo dõi lâm sàng hàng tháng (tái khám hàng tháng); tái khám ngay khi có dấu hiệu ngộ độc thuốc chống lao như đau bụng, nôn, vàng da…
      + Lao phổi thông thường, không có biến chứng : thời gian điều trị kéo dài 6 tháng
      Giai đoạn tấn công 2 tháng và duy trì 4 tháng
      2 tháng đầu: phối hợp 3 thuốc IRP hoặc 4 thuốc IRPE nếu BK (+++) hoặc nghi ngờ BK kháng thuốc hoặc thể nặng (Lao kê, lao màng não)
      4 tháng tiếp theo: IR
      + Lao kê : 9 tháng
      Giai đoạn tấn công 2 tháng, duy trì 7 tháng
      2 tháng đầu: IRPE
      7 tháng tiếp theo: IR
      + Lao kháng thuốc: Hội chẩn chuyên gia!

      VI. DỰ PHÒNG:

      - Ở Pháp từ năm 2007 việc tiêm phòng Lao bắt buộc cho trẻ em đã hủy bỏ, nhưng tiêm phòng Lao ngay tháng đầu sau sinh vẫn được khuyến cáo cho các trường hợp đặc biệt có nguy cơ cao nhiễm Lao.

      - Ở Việt Nam nơi có tỷ lệ mắc bệnh lao rất cao, trẻ sơ sinh cần được tiêm 1 mũi vaccine BCG càng sớm càng tốt, theo chương trình tiêm chủng mở rộng. Trẻ được tiêm phòng lao bằng BCG có thể tránh được các thể lao nặng như lao kê, lao màng não.

      - Tránh cho trẻ bị suy dinh dưỡng, tránh tiếp xúc thường xuyên, tiếp xúc gần với nguồn lây lao.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO:

      1. Site : OMS | Tuberculose
      2. DELACOURT C. Tuberculose pulmonaire de l’enfant. Pneumologie pédiatrique. Médecine-Sciences /Flammarion, 2009 ; 11 : 77-95.
      3. DONATO L. Tuberculose. Pneumologie pédiatrique-Guide pratique, sous la direction de Nicole Beydon. Elsevier Masson, 2011 ; 7 : 105-136.
      4. BOURRILLON A. Tuberculose. Pédiatrie. Elsevier Masson, 2011 ; 43 : 589-595.
      5. Cours de DIU de Pneumologie Pédiatrique 2013.


      ThS. BS. Trần Thị Mai Chinh
      Cựu Nội trú Nhi K26, Đại học Y Hà Nội
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác