• Kỹ thuật sơ cứu nghẹt thở do dị vật đường hô hấp ở trẻ lớn và người lớn

      by
      16-06-14, 22:45
      Kỹ thuật sơ cứu nghẹt thở do dị vật đường hô hấp ở trẻ lớn và người lớn
      Nghẹt thở có nghĩa là một người không thể thở hoặc nói vì họng hoặc khí quản bị tắc nghẽn hoàn toàn. Nếu không sơ cứu, thiếu dưỡng khí có thể gây tổn thương não nghiêm trọng hoặc thậm chí tử vong do ngạt thở.

      Bạn cần phải làm gì nếu chứng kiến một ai đó có biểu hiện nghẹt thở? Nghẹt thở gây ra bởi dị vật mắc kẹt trong họng và ngăn cản dòng khí thở. Hầu hết nghẹt thở là hậu quả do thức ăn mắc kẹt trong khí quản. Ở trẻ nhỏ, nghẹt thở thường xuất hiện khi đồ chơi, tiền xu, hoặc các vật nhỏ khác bị mắc kẹt trong họng hoặc khí quản. Nghẹt thở cũng có thể xuất hiện như là hậu quả của chấn thương, uống rượu, bệnh lý, hoặc phù nề sau một phản ứng dị ứng.

      Nghẹt thở có nghĩa là một người không thể thở hoặc nói vì họng hoặc khí quản bị tắc nghẽn hoàn toàn.[1] Nếu không sơ cứu, thiếu dưỡng khí có thể gây tổn thương não nghiêm trọng hoặc thậm chí tử vong do ngạt thở. Nếu bạn nghĩ ai đó bị nghẹt thở thì dưới đây là những điều cần làm.


      Lưu ý: bài viết này bao gồm người lớn và trẻ em trên 1 tuổi. Đối với trẻ em dưới 1 tuổi, hãy xem trong bài Kỹ thuật sơ cứu nghẹt thở do dị vật đường hô hấp ở trẻ nhỏ.”

      II. Các bước thực hiện

      1.1. Hãy chắc chắn rằng nạn nhân bị nghẹt thở. Điều quan trọng là phải phân biệt được giữa tắc nghẽn đường thở không hoàn toàn và hoàn toàn. Nếu nạn nhân không thực sự nghẹt thở, và có tắc nghẽn đường thở không hoàn toàn, tốt hơn nhất là khuyến khích nạn nhân ho để tự loại bỏ tắc nghẽn đường thở. Nếu nạn nhân thực sự nghẹt thở (tắc nghẽn đường thở hoàn toàn) thì sẽ có biểu hiện một trong các dấu hiệu sau:



      - Dấu hiệu nghẹt thở - cả hai tay nắm chặt vào cổ họng
      - Không thể nói chuyện được
      - Không thể thở hiệu quả được mà không gặp khó khăn – sẽ không có sự chuyển động của khí
      - Không thể ho hiệu quả được
      - Thở khò khè hay ồn ào
      - Thay đổi mầu sắc da: môi và móng tay chuyển mầu xanh
      - Cuối cùng là bất tỉnh
      - Các dấu hiệu chứng tỏ tắc nghẽn đường thở không hoàn toàn hơn là hoàn toàn:[2]
      + Có thể nói, khóc, và trả lời bạn
      + Thở khò khè, khó nhọc, hoặc thở hổn hển, có một chút khí được thở ra đường miệng
      + Ho được, hoặc phát ra tiếng “gáy”
      + Rất kích động hoặc lo lắng
      + Da trở lên nhạt mầu hoặc chuyển mầu xanh

      1.2. Hỏi nạn nhân, “Có phải bạn đang nghẹt thở không?”. Nếu nạn nhân có thể trả lời bạn được, hãy chờ đợi. Nạn nhân thực sự bị nghẹt thở sẽ không thể nói được. Nếu họ có thể nói, ho, thở, hoặc khóc thì chứng tỏ đường thở tắc nghẽn không hoàn toàn. Điều quan trọng là bạn KHÔNG được sử dụng nghiệm pháp vỗ lưng ở nạn nhân có tắc nghẽn đường thở không hoàn toàn bởi vì có nguy cơ đẩy dị vật (gây bán tắc đường thở) ngược lên hoặc thậm chí đẩy dị vật vào sâu hơn trong đường thở, điều này có thể sẽ làm cho đường thở bị tắc nghẽn hoàn toàn. Nếu nạn nhân còn trả lời bạn được:



      - Trấn an nạn nhân.
      - Khuyến khích nạn nhân ho. KHÔNG sử dụng nghiệm pháp vỗ lưng.
      - Hãy theo dõi sát tình trạng nạn nhân.
      - Gọi xe cứu thương nếu tắc nghẽn đường thở không giảm, hoặc nếu nghe thấy tiếng thở khò khè hoặc thở ồn ào.

      1.3. Nếu nạn nhân không trả lời được, kêu to gọi sự giúp đỡ.[3] Nếu có ai đó ở gần, bảo họ gọi cho dịch vụ cấp cứu y tế (dịch vụ cấp cứu y tế ở Việt Nam có số điện thoại là 115)



      1.4. Nếu nạn nhân còn tỉnh, truyền đạt ý định tiến hành sơ cứu của bạn cho nạn nhân. Đó là cách tốt nhất để đảm bảo rằng nạn nhân biết được bạn có kế hoạch làm gì; điều này cũng sẽ trao cho nạn nhân một cơ hội cho bạn biết sự hỗ trợ của bạn được hoan nghênh (chấp thuận) và bạn sẽ có sự hợp tác từ nạn nhân.



      1.5. Thực hiện sơ cứu như được mô tả theo các bước ở dưới ngay lập tức. Đừng mất thời gian gọi dịch vụ cấp cứu y tế nếu bạn chỉ là người duy nhất có thể giúp nạn nhân bị nghẹt thở.[4] Lưu ý rằng các hướng dẫn sau đây áp dụng cho nạn nhân đang ngồi hoặc đứng.



      1.6. Tiến hành 5 lần vỗ lưng bằng gót bàn tay.[5]
      - Dùng phần cuối của bàn tay (gót bàn tay) vỗ mạnh vào lưng nạn nhân 5 lần riêng biệt tại vị trí giữa hai bả vai.
      - Cần đảm bảo việc vỗ lưng đủ mạnh và mỗi lần vỗ lưng được tách biệt. Cố gắng đánh bật dị vật ra với mỗi lần vỗ lưng.
      - Đánh giá tình trạng cải thiện sau mỗi lần vỗ lưng.



      1.7. Tiến hành 5 lần đẩy bụng (còn gọi là nghiệm pháp Heimlich).[5]



      - Đứng ở phía sau nạn nhân.



      - Dùng 2 tay ôm xung quanh eo của nạn nhân. Hãy đảm bảo rằng 2 tay bạn ôm qua eo ở bên dưới khung xương sườn nạn nhân.



      - Dùng mặt dưới của nắm tay đặt lên gần trung tâm bụng của nạn nhân (cạnh của ngón tay cái tỳ vào bụng) ở ngay phía trên rốn và dưới mũi ức (vùng thượng vị).



      - Nắm tay được bọc trong bàn tay bên kia.



      - Tiến hành những lần đẩy bụng riêng rẽ và dứt khoát theo hướng vào trong và lên trên. Tiếp tục cho tới khi dị vật gây tắc nghẽn được đánh bật ra – kiểm tra sau mỗi lần đẩy bụng. Dừng lại nếu nạn nhân bị bất tỉnh.



      1.8. Nếu tình trạng tắc nghẽn đường thở chưa cải thiện thì tiếp tục luân phiên 5 lần vỗ lưng và 5 lần đẩy bụng cho tới khi dị vật được đánh bật ra.



      1.9. Hãy đảm bảo rằng dị vật đã được đánh bật ra hoàn toàn.
      - Nếu có thể thì yêu cầu nạn nhân nhổ dị vật ra và khi thở thì không thấy khó khăn.
      - Dùng ngón tay để kiểm tra và lấy dị vật trong miệng ở những nạn nhân bất tỉnh hoặc nạn nhân quá yếu. Nắm lấy lưỡi và cằm dưới nạn nhân nhấc lên để mở miệng. Quan sát và lấy dị vật trong miệng nạn nhân bằng ngón tay.



      1.10. Kiểm tra xem nạn nhân đã thở bình thường trở lại chưa. Sau khi dị vật đã được tống ra ngoài, hầu hết nạn nhân sẽ thở bình thường trở lại. Nếu nhịp thở bình thường không trở lại hoặc nạn nhân bất tỉnh, kiểm tra miệng và lấy bỏ bất cứ chướng ngại vật rắn nào có thể nhìn thấy và bắt đầu hồi sinh tim phổi (PCR).[6] Có thể có sự kháng trở khi thổi ngạt. Luân phiên giữa đẩy bụng, kiểm tra đường thở và hồi sinh tim phổi cho tới khi dịch vụ cấp cứu y tế tới.



      II. Tự sơ cứu

      2.1. Nếu bạn đang nghẹt thở, bạn có thể tự thực hiện nghiệm pháp Heimlich. Bạn không thể thực hiện nghiệm pháp này đủ mạnh mẽ như một người nào khác, tuy nhiên.



      2.2. Hãy nắm tay. Đặt nắm tay lên bụng bạn ở vị trí ngay phía trên rốn



      2.3. Nắm tay được giữ trong bàn tay kia của bạn.



      2.4. Cúi xuống một chiếc ghế, bàn, bàn quầy, hoặc vật cứng khác.



      2.5. Đẩy nắm tay vào trong và lên trên như mô tả ở trên.



      2.6. Lặp lại cho tới khi dị vật được đánh bật ra ngoài.

      III. Một vài lưu ý

      - Cố gắng giữ nạn nhân bình tĩnh và hít thở từ từ
      - Nghẹt thở có khả năng sẽ xảy ra nhanh chóng nếu do dị vật được đưa vào miệng hoặc do thức ăn; nghẹt thở do phù nề bên trong miệng thường xuất hiện từ từ hơn.
      - Nếu sơ cứu ở người có thai hoặc béo phì, bạn cần thay đổi nghiệm pháp Heimlich như sau:[4]
      + Để bàn tay bạn cao hơn như đã mô tả ở phía trên. Vị trí chính xác là bàn tay nằm trên xương ức ngay phía trên các khớp sườn ức ở thấp nhất
      + Ấn mạnh và đẩy nhanh vào thành ngực như đã mô tả ở trên. Tuy nhiên, bạn sẽ không thể đẩy được thành ngực hướng lên trên như trong các trường hợp đẩy bụng khác.

      Tài liệu tham khảo
      1. St John, The New Zealand First Aid Handbook, p.35, ISBN 978-0-14-301187-3
      2. How to Help a Choking Victim: 16 Steps (with Pictures) – wikiHow
      3. U.S. NASD - Basic First Aid
      4. MayoClinic.com - Choking:First Aid
      5. American Red Cross, Conscious Choking
      6. St John, The New Zealand First Aid Handbook, p.36, ISBN 978-0-14-301187-3

      ThS. BS. Lương Quốc Chính
      Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác