• Chuyện những người săn... muỗi

      12-08-15, 11:00
      Chuyện những người săn... muỗi
      Có những con người rất khác lạ, họ tỉ mẩn đi săn… muỗi nơi rừng sâu núi thẳm, giữa đêm khuya khoắt, thậm chí ngồi im cho muỗi đốt. Cái thú của người thích chơi trội hay của kẻ vô công rồi nghề? Không hề! Đó là công việc nghiêm túc với không ít nhọc nhằn, rủi ro lẫn hiểm nguy…



      Kỳ 1: Những đêm trắng...

      Rời Hà Nội giữa những ngày nóng nực nhất mùa hè, tôi theo chân đoàn công tác của các cán bộ Khoa Hóa thực nghiệm thuộc Viện Sốt rét - Ký sinh trùng- Côn trùng Trung ương lên vùng núi cao trên 1000m so với mặt nước biển. Những tưởng đó là chuyến đi tránh nóng. Nhưng không. Họ đi bắt muỗi để nghiên cứu cho cả một chiến lược dài hơi: phòng chống bệnh sốt rét.


      Cả nhóm đang cho muỗi ăn. Ảnh T.Hà

      Trắng đêm với muỗi

      Lắc lư trên xe vài chục cây số vì đường xóc, đoàn 4 người dừng chân tại nhà anh Bùi Văn Khiêm (xóm Trung Hưng, xã Quyết Chiến, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình) khi hoàng hôn bắt đầu đổ bóng. Mệt mỏi được xua tan bởi nụ cười hiền hậu và cái bắt tay thật chặt của chủ nhà.

      Thoáng thấy người bê rổ rau vào ngõ, Hà Thị Hợi, đi cùng xe với tôi chạy ào ra liên tục hỏi han: “Đến lúc nào, mệt không”. Nguyễn Thị Hoàng Yến, cô gái có vóc người nhỏ nhắn cười rất tươi không trả lời câu hỏi của Hợi mà giục bạn vào bếp nấu cơm tối. Căn nhà sàn rộng hơn 70m, đang lúi húi nhóm bếp là 2 chàng trai Vũ Mạnh Hùng và Đoàn Minh Khiết trên dưới 30 tuổi.

      Góc bếp, 2 người đàn ông đang thái thịt rất thành thạo. Họ đều là thành viên đoàn công tác. Thoắt cái, mâm cơm được bưng lên khi bóng tối bao phủ khắp núi rừng. Bữa cơm ấm cúng nhưng diễn ra nhanh chóng bởi công việc đang chờ họ khi đêm xuống: Đi bắt muỗi.


      Yến (áo kẻ) và Hợi đang định dạng từng loại muỗi bắt được

      Vũ Mạnh Hùng, cậu em út trong đoàn phát khẩu trang và đèn pin cho từng người. Nguyễn Dương Hải là người có thâm niên nhất đoàn chuẩn bị dụng cụ bắt muỗi rồi chia đều cho các thành viên. Hợi quay sang “nắn gân” tôi: “Chị đi lần đầu dễ bị muỗi đốt làm quen lắm đấy”.

      Nở nụ cười để đáp lại lời trêu đùa của Hợi nhưng thực tâm trong lòng tôi thấy chút lo lắng bởi nhỡ đâu bị muỗi gây sốt rét đốt. Như đoán được suy nghĩ của tôi, Yến nhanh tay đưa chiếc áo khoác gió bảo: “Chị mặc vào tránh lạnh và muỗi nhé”. Thạc sĩ, bác sĩ Lê Trung Kiên lệnh: “Đi thôi”. Tôi liếc nhìn đồng hồ, 22 giờ 5 phút.

      Không gian vắng lặng, chỉ có tiếng suối chảy rì rầm, thi thoảng những đợt gió núi thổi qua khiến mọi người rùng mình. Con đường ban chiều giờ bị bóng tối phủ lên, tất cả lặng lẽ vừa đi vừa chiếu đèn pin để tránh những cạm bẫy do cơn mưa ban trưa tạo ra. Đêm trước ngày rằm, ánh trăng bị mây che hắt xuống đỉnh núi thứ ánh sáng huyền ảo, ma mị. Đoàn chia làm hai nhóm đi hai hướng khác nhau.

      Một nhóm đi ngồi mồi bắt muỗi thuần và một nhóm đi bắt muỗi đốt gia súc. Tôi theo chân nhóm Yến, Hợi, bác sĩ Kiên và anh Hải đi về phía chân núi, mục tiêu là... những chuồng bò, chuồng trâu của nhà dân. Yến bảo, khoảng 9 giờ tối trở đi muỗi đốt trâu bò no bụng máu nên sẽ dễ bắt hơn. Đi bộ gần 1km qua những lối mòn lầy lội, cả nhóm vào chuồng bò của dân nằm giữa những lùm cây dại um tùm.

      Ba người rút trong túi ra những ống tuýp dài chừng 20cm, to bằng ngón tay trỏ. Mỗi người một tay cầm ống tuýp, một tay rọi đèn lên nóc và thành chuồng để bắt từng con muỗi. Không khí trong lành của miền sơn cước lúc này được thay thế bằng mùi hôi của chất thải súc vật.

      Anh Hải nói: “Phương pháp bắt muỗi ở chuồng gia súc ban đêm nhằm mục đích xác định những loài muỗi thích đốt máu gia súc, cung cấp số lượng cá thể muỗi cho việc thử nghiệm đánh giá hiệu lực tồn lưu của hóa chất diệt côn trùng và các thí nghiệm khác, đồng thời cung cấp các cá thể muỗi nuôi trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu”.

      Công việc này đòi hỏi lòng yêu nghề và sự can đảm bởi lẽ sẽ nguy hiểm nếu không may trong đàn trâu, bò có những con hung dữ, tấn công người. Chỉ nguyên việc ngửa cổ lên nóc chuồng trong tư thế lom khom cũng đủ bí bách, vậy mà họ còn phải căng mắt nhìn và đưa tuýp lên để bắt muỗi một cách chính xác vì chỉ khẽ động là muỗi bay mất.

      Mỗi khi một con muỗi chui vào ống, Yến lại lấy một ít bông gòn vo viên nhỏ và nút lại ở giữa tuýp rồi tiếp tục bắt con khác. Mỗi ống tuýp chỉ nhốt 2 con. Trước đó có người kêu lạnh, vậy mà khi công việc chỉ mới bắt đầu chừng 15 phút đã thấy những giọt mồ hôi rịn trên trán rồi lăn xuống gò má và thấm vào khẩu trang. Chừng 1 tiếng, ba người bắt được khoảng 100 con muỗi.

      Chưa đủ số lượng, nhóm trở ra và đi tiếp sâu hơn vào trong bản tìm chuồng bò khác. Lại cần mẫn trong từng động tác. Đồng hồ đã chỉ sang ngày mới được 20 phút, Hải thông báo: “Về thôi, hết tuýp rồi, nhóm mình được 200 con, hy vọng hai cậu kia cũng bắt được 100 con là ấm rồi”.

      Tưởng về đến nhà sàn sẽ được tắm gội rồi đi ngủ. Nhưng tôi nhầm. Hùng pha bát nước đường gluco, mọi người thấm bông vào bát rồi khẽ vắt cho bớt nước và nhét trở lại giữa tuýp. Món ăn đặc biệt này sẽ giúp muỗi sống đến sáng hôm sau. Khi đồng hồ chỉ hơn 3 giờ sáng, tất cả chợp mắt.

      Gần 6 giờ sáng, tôi đã thấy cả nhóm lục tục dậy, mặt ai cũng phờ phạc sau một ngày đi đường xa và làm việc suốt đêm. Công việc định loại, chăm muỗi để thử nghiệm với hóa chất, đánh giá nhạy cảm của từng con muỗi là hoạt động bắt đầu cho một ngày làm việc mới của nhóm.

      Khoảng gần 9 giờ sáng, Hợi và Khiết ở nhà tiếp tục công việc. Hùng, Yến và Hải, Kiên lại lên đường sang xóm khác để phun hóa chất và đánh giá hiệu lực của hóa chất diệt muỗi.

      Khổ như chăn… muỗi

      Số muỗi không thử nghiệm còn lại được đưa về nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm giúp nhân nuôi các thế hệ phục vụ cho nghiên cứu. Để đưa muỗi từ điều kiện hoang dại về sống, có thể phát triển, giao phối và sinh sản bình thường đòi hỏi sự cố gắng và kiên trì rất lớn.

      Các kỹ thuật viên sẽ nghiên cứu môi trường sống tại núi rừng, tạo các điều kiện tại phòng nuôi như thực địa, từng bước tập cho muỗi quen sống, có thể phát triển và giao phối trong lồng hẹp. Các thế hệ ấu trùng muỗi sinh ra, được tập cho ăn, phân loại theo từng độ tuổi.


      Hợi và Hải đang bắt muỗi trong chuồng bò

      Bùi Thị Duyên, kỹ thuật viên tổ Sinh học, khoa Hóa thực nghiệm dẫn tôi vào phòng nuôi muỗi của Viện. Trong phòng có hàng chục chiếc khay trắng gần đầy nước, chứa những con cung quăng, bọ gậy. Công việc của Duyên và đồng nghiệp trong tổ Sinh học là hàng ngày quan sát xem những con cung quăng nào đủ tuổi thì dùng ống nhựa dài khoảng 20cm hút và bỏ sang khay khác.

      Nếu không may để cung quăng quá tuổi và phát triển thành muỗi thì sẽ hỏng quy trình. Xem những kỹ thuật viên chăm ấu trùng muỗi (bọ gậy, cung quăng), thật tỉ mỉ, tinh tế và kỳ công.

      Mỗi lần trời trở lạnh đột ngột, dù là nửa đêm, các kỹ thuật viên cũng phải quay trở lại phòng nuôi để chăm sóc… muỗi. Ngày nghỉ cũng phải cắt cử nhau chăm sóc chúng. Chẳng thế mà chưa lần nào khoa phòng tổ chức đi nghỉ có được đầy đủ anh chị em.

      Thức ăn của cung quăng cũng do nhân viên trong khoa chế ra từ bột tôm, bột bánh mì, bột đậu, tất cả được sấy khô rồi xay mịn. Món ăn khoái khẩu của muỗi là hút máu chuột bạch, gà, thậm chí cả tay của các kỹ thuật viên, bác sĩ. Để nhân giống được muỗi trong môi trường phòng thí nghiệm, các kỹ thuật viên phải làm thụ tinh nhân tạo cho muỗi.

      Duyên nhanh tay chụp muỗi vào ống thủy tinh có ête gây tê khiến muỗi ngất. Sau vài giây muỗi hồi tỉnh, cô chạm phần đuôi bụng con đực vào con cái, nếu đuôi chúng cặp lại với nhau là thành công.

      Lần lượt như vậy, trong buổi sáng có khi Duyên thụ tinh nhân tạo cho cả chục cặp muỗi. Muỗi nhân nuôi thành công sẽ được sử dụng để nghiên cứu, thử nghiệm. Vì thế nhiệm vụ của tổ Sinh học là luôn có muỗi để sẵn sàng cung cấp mỗi khi Viện cần.

      Duyên gắn bó với các loại muỗi đã 5 năm, nhưng giờ con còn nhỏ nên được ưu tiên ở Viện nuôi muỗi. Nghe tôi hỏi chuyện đi thực địa, trong đôi mắt biết cười của cô gái 26 tuổi hơi ngân ngấn nước. Duyên bảo: “Nhiều khi nhớ núi lắm. Em từng đi bắt muỗi thực địa hàng tháng trời trong rừng, kỷ niệm nhiều không kể xiết”. Nghe những người trẻ làm nghề đặc biệt này tâm sự, mới thấy được phần nào những buồn vui, nguy hiểm, sự hy sinh vì cộng đồng của họ…


      Món ăn khoái khẩu của muỗi là hút máu chuột bạch, gà, thậm chí cả tay của các kỹ thuật viên, bác sĩ. Để nhân giống được muỗi trong môi trường phòng thí nghiệm, các kỹ thuật viên phải làm thụ tinh nhân tạo cho muỗi.

      (còn nữa…)

      Kỳ cuối: Hiểm nguy và những nốt lặng

      Theo: Thái Hà (Tiền phong)
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác