• Chẩn đoán nhiễm virus varicella-zoster (thủy đậu-zona)

      by
      13-04-15, 01:09
      Chẩn đoán nhiễm virus varicella-zoster (thủy đậu-zona)
      Chẩn đoán nhiễm VZV thường là chẩn đoán lâm sàng dựa trên tổn thương mụn nước đặc trưng. Những tổn thương này có thể lan tỏa trong bệnh thủy đậu hoặc khu trú theo vùng thần kinh bì kèm theo viêm thần kinh trong bệnh zona

      GIỚI THIỆU

      - Nhiễm virus varicella-zoster (VZV) gây ra hai thể bệnh khác nhau trên lâm sàng. Nhiễm VZV tiên phát gây thủy đậu (varicella) có đặc điểm là những tổn thương mụn nước ở các giai đoạn phát triển khác nhau trên mặt, thân mình và các chi. Zona (herpes zoster) còn được gọi là "bệnh giời leo" là do tái hoạt nhiễm VZV thể ẩn nội sinh bên trong các hạch cảm giác. Thể bệnh lâm sàng này có đặc điểm là phát ban mụn nước ở một bên gây đau, thường xuất hiện giới hạn ở một vùng phân bố thần kinh bì.

      - Hai bệnh này thường chẩn đoán dựa trên lâm sàng. Tuy nhiên trong một số trường hợp có thể cần phải dùng đến các xét nghiệm chẩn đoán.

      NHỮNG TÌNH HUỐNG CHẨN ĐOÁN

      - Chẩn đoán nhiễm VZV thường là chẩn đoán lâm sàng dựa trên tổn thương mụn nước đặc trưng. Những tổn thương này có thể lan tỏa trong bệnh thủy đậu hoặc khu trú theo vùng thần kinh bì kèm theo viêm thần kinh trong bệnh zona.

      - Tuy nhiên trong những tình huống sau thì có thể cần phải có thêm thông tin chẩn đoán:
      + Phát ban không điển hình ở người suy giảm miễn dịch
      + Bệnh có khả năng lan rộng toàn thân ở người bị ức chế miễn dịch mà không thấy tổn thương da

      Ngoài ra, có thể cần phải xét nghiệm huyết thanh để xác định một cá nhân có gia tăng nguy cơ bị thủy đậu cần phải tiêm chủng hay không (ví dụ một nhân viên y tế sinh ra sau năm 1980 mà chưa có tiền sử nhiễm khi còn bé).

      Một số hình ảnh tổn thương và định khu:


      Herpes zoster - Các mụn nước tạo thành nhóm và ban đỏ nằm bên dưới xuất hiện trong sự phân bố theo từng khoanh da (thần kinh bì). Ảnh: visualdx.com. Copyright Logical Images, Inc.


      Herpes zoster - Ảnh: Vaibhav Parekh, MD, MBA.


      Herpes zoster - Ảnh: Vaibhav Parekh, MD, MBA.


      Thần kinh bì vùng ngực


      Thần kinh bì vùng cổ


      Viêm mắt do herpes zoster - Các tổn thương herpes zoster tiến triển qua các giai đoạn, bắt đầu là các dát đỏ và các sẩn, giai đoạn này khoảng 7 – 10 ngày, sau đó phát triển thành mụn nước, mụn mủ và đóng vẩy dầy. Vị trí phổ biến là ranh giới mắt của dây thần kinh sinh ba. Ảnh: Sampathkumar P, Drage LA, Martin DP. Herpes zoster (shingles) and postherpetic neuralgia. Mayo Clin Proc 2009; 84:274. Copyright © 2009 Quadrant HealthCom, Inc.

      PHẢN ỨNG CHUỖI POLYMERASE

      - Các kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR) thời gian thực luôn cho kết quả khẳng định VZV nhanh và nhạy từ các mẫu bệnh phẩm lâm sàng lấy từ các tổn thương da và các chất dịch cơ thể chọn lọc như dịch não tủy và dịch rửa phế quản [1,2]. Trong một nghiên cứu so sánh phân lập nuôi cấy virus với PCR thời gian thực [2], 110 bệnh phẩm từ tổn thương da đã được phân tích bằng cả hai phương pháp. VZV phân lập được qua nuôi cấy ở 15 mẫu (14%) còn VZV DNA phát hiện được qua PCR ở 51 mẫu (46%). Trong một nghiên cứu khác về bệnh nhân nghi ngờ nhiều bị zona trên lâm sàng, xét nghiệm PCR thời gian thực là rất nhạy so với nuôi cấy (92% so với 53%) [3]. Ngoài ra, xét nghiệm PCR có độ đặc hiệu cao, không thấy phản ứng chéo khi thử với nhiều loại virus khác.

      - PCR thời gian thực cho phép khuếch đại vi rút nhanh chóng, hạn chế nguy cơ nhiễm bẩn, cho độ nhạy cao hơn so với phân lập VZV từ một loạt các bệnh phẩm lâm sàng, và thời gian trả kết quả nhanh hơn so với các kỹ thuật nuôi cấy thông thường.

      - Xét nghiệm PCR cũng hữu ích cho một loạt các chỉ định khác, chẳng hạn chẩn đoán cho bệnh nhân bị nhiễm không điển hình sau tiêm vắc-xin [4]. Xét nghiệm PCR huyết thanh hoặc máu cũng có thể hữu ích ở bệnh nhân cấy ghép có bệnh nội tạng trước xuất hiện các tổn thương ở da [5].

      KHÁNG THỂ HUỲNH QUANG TRỰC TIẾP

      - Có thể chẩn đoán nhanh nhiễm VZV bằng DFA trên bệnh phẩm cạo từ các tổn thương da mụn nước đang hoạt động mà chưa đóng vảy. Xét nghiệm DFA phổ biến rộng rãi, giá rẻ hơn so với nuôi cấy và thời gian trả kết quả nhanh hơn [6,7]. Kỹ thuật DFA có thể đồng thời phát hiện HSV và VZV với thời gian trả kết quả là 1,5 giờ [6].

      NUÔI CẤY VIRUS

      - Đôi khi có thể làm được phân lập virus bằng nuôi cấy nhưng kém nhạy và khả năng phát hiện thấp (khoảng 60% đến 75%) khi so với xét nghiệm PCR [8]. Phân lập nuôi cấy VZV đặc hiệu từ mẫu phết tổn thương mụn nước ngoài da hoặc dịch cơ thể vô trùng như dịch não tủy, thường đòi hỏi thời gian ủ kéo dài với thời gian trả kết quả 1-2 tuần [6]. Độ nhạy của nuôi cấy cũng giảm khi các tổn thương tiến triển xa hơn giai đoạn mụn nước.

      XÉT NGHIỆM HUYẾT THANH

      - Có mặt kháng thể IgG với VZV có nghĩa vừa là đã nhiễm varicella, vừa là có sự bảo vệ chống nhiễm sau này. Xét nghiệm huyết thanh đã được sử dụng cho nhân viên y tế để đánh giá khả năng cảm thụ liên quan đến nguy cơ phơi nhiễm. Xét nghiệm huyết thanh cũng được sử dụng trong nghiên cứu vắc-xin để đánh giá đáp ứng đối với tiêm chủng.

      - Hiện có nhiều xét nghiệm kháng thể khác nhau với các tiêu chuẩn về hiệu suất rất biến thiên [9]. Xét nghiệm kháng thể huỳnh quang đối với kháng thể màng (FAMA) là kỹ thuật đã được kiểm chuẩn rộng rãi nhất và tương quan tốt nhất với khả năng cảm thụ và bảo vệ chống lại thủy đậu [10]. Tuy nhiên, xét nghiệm này không được sử dụng rộng rãi bởi vì tốn nhân công và cần chuyên gia đọc kết quả.

      - Hiện có sẵn nhiều xét nghiệm ELISA thương mại nhìn chung được coi là kém nhạy hơn FAMA, mặc dù độ đặc hiệu có vẻ tương đương [9]. Những người từ 60 tuổi trở lên có thể không phơi nhiễm với thủy đậu trong nhiều năm nên kháng thể suy yếu có thể dẫn đến kết quả âm tính giả và khiến cho phân loại sai là người đó có khả năng mắc bệnh. Ngược lại, xét nghiệm ngưng kết latex có liên quan đến các kết quả xét nghiệm dương tính giả và thất bại tiêm chủng ở nhân viên y tế có khả năng cảm thụ, những người sau đó đã bị thủy đậu sau phơi nhiễm [11].

      - Một số chuyên gia đã kết luận rằng các xét nghiệm ELISA thương mại phù hợp để sàng lọc khả năng cảm thụ VZV của nhân viên y tế [9]. Lý do là nguy cơ tiêm vắc xin cho người có kết quả âm tính giả thì thấp hơn nhiều so với nguy cơ nhiễm tự nhiên ở người dương tính giả.

      - Không khuyến cáo sàng lọc thường quy về thủy đậu cho những người sinh ra tại Hoa Kỳ trước năm 1980 mà không phải là nhân viên y tế vì tỷ lệ huyết thanh dương tính trong nhóm này rất cao.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1.Stránská R, Schuurman R, de Vos M, van Loon AM. Routine use of a highly automated and internally controlled real-time PCR assay for the diagnosis of herpes simplex and varicella-zoster virus infections. J Clin Virol 2004; 30:39.
      2.Schmutzhard J, Merete Riedel H, Zweygberg Wirgart B, Grillner L. Detection of herpes simplex virus type 1, herpes simplex virus type 2 and varicella-zoster virus in skin lesions. Comparison of real-time PCR, nested PCR and virus isolation. J Clin Virol 2004; 29:120.
      3.Harbecke R, Oxman MN, Arnold BA, et al. A real-time PCR assay to identify and discriminate among wild-type and vaccine strains of varicella-zoster virus and herpes simplex virus in clinical specimens, and comparison with the clinical diagnoses. J Med Virol 2009; 81:1310.
      4.Leung J, Harpaz R, Baughman AL, et al. Evaluation of laboratory methods for diagnosis of varicella. Clin Infect Dis 2010; 51:23.
      5.de Jong MD, Weel JF, van Oers MH, et al. Molecular diagnosis of visceral herpes zoster. Lancet 2001; 357:2101.
      6.Chan EL, Brandt K, Horsman GB. Comparison of Chemicon SimulFluor direct fluorescent antibody staining with cell culture and shell vial direct immunoperoxidase staining for detection of herpes simplex virus and with cytospin direct immunofluorescence staining for detection of varicella-zoster virus. Clin Diagn Lab Immunol 2001; 8:909.
      7.Dahl H, Marcoccia J, Linde A. Antigen detection: the method of choice in comparison with virus isolation and serology for laboratory diagnosis of herpes zoster in human immunodeficiency virus-infected patients. J Clin Microbiol 1997; 35:347.
      8.Gnann JW Jr, Whitley RJ. Clinical practice. Herpes zoster. N Engl J Med 2002; 347:340.
      9.Breuer J, Schmid DS, Gershon AA. Use and limitations of varicella-zoster virus-specific serological testing to evaluate breakthrough disease in vaccinees and to screen for susceptibility to varicella. J Infect Dis 2008; 197 Suppl 2:S147.
      10.Williams V, Gershon A, Brunell PA. Serologic response to varicella-zoster membrane antigens measured by direct immunofluorescence. J Infect Dis 1974; 130:669.
      11.Behrman A, Schmid DS, Crivaro A, Watson B. A cluster of primary varicella cases among healthcare workers with false-positive varicella zoster virus titers. Infect Control Hosp Epidemiol 2003; 24:202.

      Lược dịch theo UpToDate®
      ThS. BS. Nguyễn Quốc Thái
      Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Bạch Mai

      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác