• Cảnh báo ngộ độc nấm: cách phát hiện, xử trí ban đầu và dự phòng

      18-03-14, 17:36
      Cảnh báo ngộ độc nấm: cách phát hiện, xử trí ban đầu và dự phòng
      Trong những ngày vừa qua Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai liên tục tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị ngộ độc nấm, phần lớn bệnh nhân đến từ các tỉnh như Tuyên Quang, Thái Nguyên... và hiện giờ có nhiều bệnh nhân đang ở trong tình trạng rất nặng, thậm chí đã có bệnh nhân tử vong.

      Việc tuyên truyền, giáo dục cho người dân hiểu biết về ngộ độc nấm, các loại nấm độc... rất quan trọng nhằm giúp giảm thiểu số vụ ngộ độc. Ngoài ra, nhân viên y tế cũng cần phải biết chẩn đoán, xử trí ban đầu và điều trị sớm các trường hợp ngộ độc nấm này để tránh bệnh tiến triển nặng và dẫn tới tử vong.


      Bệnh nhân ngộ độc nấm đang điều trị tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai. Ảnh: Nam Phương (VnExpress)

      PGS. TS. Phạm Duệ (Giám đốc Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai) có bài viết chia sẻ với các bạn về bệnh cảnh này và hy vọng sẽ giúp ích cho các bạn trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng

      NGỘ ĐỘC NẤM

      I. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN

      1. Chẩn đoán xác định:
      chủ yếu dựa vào

      - Có ăn nấm;

      - Có triệu chứng ngộ độc: nôn, đau bụng, ỉa chẩy hoặc các triệu chứng ngộ độc nấm đặc hiệu khác.


      Loại nấm độc mà bệnh nhân ăn trong các vụ ngộ độc vừa rồi. Ảnh do bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai cung cấp


      Loại nấm độc (có phình gốc)


      Loại nấm không độc (không có phình gốc)

      1.1. Lâm sàng

      a) Nhóm nấm độc có triệu chứng sớm trong 3 giờ sau khi ăn (nhóm 1) (ít nguy hiểm hơn)

      - Có thể có triệu chứng Muscarin: tăng tiết nước bọt, phế quản, ỉa chảy, co đồng tử , chảy nước mắt giống như ngộ độc Photpho hữu cơ

      - Chất độc nấm là Coprine thì triệu chứng ngộ độc xuất hiện sớm trong vòng 30 phút, giống như ngộ độc Disulfiram: mặt đỏ, nóng bừng, nôn, toát mồ hôi, rối loạn nhịp tim, trụy tim mạch...

      - Chất độc nấm là Psilocybin gây ra ảo giác hay kích thích dạ dày ruột, yếu mệt, đau bụng, sốt, dãn đồng tử, co giật (nấm: Psilocybe cubeusis, Amanita muscaria,...)

      b) Nhóm nấm độc có triệu chứng xuất hiện sau 6 giờ ăn (nhóm 2) (nhóm này nguy hiểm và tỉ lệ tử vong cao)

      - Nấm có độc tố Amatoxin thì xuất hiện triệu chứng từ 6-12 giờ sau ăn: nôn, ỉa chảy, đau thắt bụng, co giật, suy gan, đái máu, protein niêụ (hcgan thận). Các triêụ chứng trên có thể phối hợp vơí co giật, yếu cơ nêú là nấm có chưá Monomethylhydrazine.

      - Nấm có độc tố Allenic nocleucine, orellanine: xuất hiện triệu chứng từ 1đến 12 ngày sau ăn, gây ra suy thận cấp do viêm kẽ ống thận cấp (đái ít, vô niệu, ure tăng, creatimin tăng,...).

      Xét nghiệm phát hiện độc chất Amatoxin có trong nấm độc mà bệnh nhân ăn phải tại các vụ ngộ độc vừa rồi

      1.2. Cận lâm sàng

      - Phát hiện độc tố nấm: Hiện Trung tâm Chống độc Quân đội có sản xuất bộ test thử độc tố amatoxin rất tiện lợi

      - Các xét nghiệm đánh giá mất nước và rối loạn điện giải

      - Các xét nghiệm chức năng gan, thận để đánh giá loại nấm độc có triệu chứng nặng xuất hiện sau 6 giờ: ure, creatinine, SGOT, SGPT, Bilirubil tỉ lệ Prothrombin, INR fibrin...

      2. Chẩn đoán mức độ: Ngộ độc nấm được phân loại nặng dựa trên các dấu hiệu lâm sàng xuất hiện triệu chứng sau khi ăn:

      - Sớm trong 3 giờ (nhẹ & trung bình), hoặc

      - Muộn sau 6 giờ (nặng nguy hiểm)

      Tuy nhiên cần đề phòng nếu người bệnh ăn nhiều loại nấm và xuất hiện triệu chứng sớm cũng có thể nặng gây tử vong.

      3. Chẩn đoán phân biệt

      - Phân biệt với các ngộ độc thức ăn do các căn nguyên khác: vi khuẩn, độc tố vi khuẩn, dư lượng hóa chất trong thực phẩm…

      - Dựa vào sự xác định của bệnh nhân về việc có ăn nấm, thời gian sau khi ăn trong vòng 3 giờ hay trước 6 giờ để định hướng ngộ độc nấm

      II. XỬ TRÍ

      1. Cấp cưú ban đầu: tại nhà và tại các tuyến y tế cơ sở

      1.1. Thực hiện các biện pháp đào thải chất độc và hạn chế hấp thu

      - Gây nôn nếu bệnh nhân mới ăn nấm trong vòng 1 giờ

      - Cho uống than hoạt (1g/kg). Nếu biết chắc bệnh nhân ăn loại nấm nguy hiểm sau 6 giờ mới xuất hiện triệu chứng thì có thể cho than hoạt 2-3 giờ một lần/24 -48 giờ vì chất độc Amatoxin chuyển hoá theo vòng tuần hoàn gan mật.

      - Rửa dạ dày có thể thực hiện ở bệnh nhân người lớn và trẻ lớn với cỡ ống rửa to(bằngngón tay út nạn nhân) nếu ăn nấm độc nguy hiểm và thời gian sau khi ăn trong vòng 1-2 giờ, có nhân việ y tế đã được huấn luyện kỹ thuật rửa dạ dày.

      1.2. Vận chuyển cấp cứu đến bệnh viện huyện các bệnh nhân ngộ độc nấm có triêụ chứng sớm. Với các bệnh nhân ngộ độc nấm có triệu chứng muộn (sau 6 giờ) cần được chuyển đến bệnh viện tỉnh hoặc khu vực nơi có khả năng lọc máu.

      1.3. Taị bệnh viện

      a) Ngộ độc nấm nhóm 1

      - Có triệu chứng của Muscarin: Atropin 0,01 - 0,03 mg/kg tiêm TM hoặc 0,5 mg tiêm bắp hay tĩnh mạch

      - Có triệu chứng ảo giác: Seduxen 10 mg tiêm bắp hay TM

      - Hạ huyết áp (sau nôn, ỉa chảy hay do độc tố nấm ở cả 2 nhóm):
      + Truyền dịch đẳng trương G 5% hay NaCl 9% 10-20 ml/kg/tm , điều chỉnh theo áp lực tĩnh mạch trung tâm và lượng dịch mất đi hàng giờ.
      + Đặt máy theo dõi nhịp tim, huyết áp
      + Nếu huyết áp không đáp ứng vơí truyền dịch: dùng Dopamin, liều ban đầu cho người lớn và trẻ em từ 7-10 mg/kg/phút, đánh giá hiệu quả và duy trì, nếu phải điều chỉnh đến 15 –20mg/kg/phút mà vẫn không đáp ứng thì cho Noradrenalin truyền 0,1-0,2 mg/kg/phút, theo dõi và điêù chỉnh tốc độ truyền theo kết quả điều trị.

      b) Ngộ độc nấm nhóm 2: cần điều trị tại các khoa Hồi sức Tích cực hay tại Trung tâm Chống độc

      Tăng đào thải độc tố

      - Có thể lọc máu hấp phụ ( Resin tốt hơn than hoạt) nếu đến sớm trong vòng 24 giờ sau ăn nấm độc

      - Uống than hoạt 1g/kg: 3 – 4 giờ / lần trong 3 ngày. Luôn kèm theo sorbitol 2g/kg để nhuận tràng chống táo bón hoặc tắc ruột do than hoạt điều chỉnh liều sorbitol nếu ỉa chảy nhiều lần hoặc táo bón.

      - Thông tin mới: dẫn lưu đường mật qua da (nếu chưa có suy gan gây nguy cơ chảy máu) hoặc qua nội soi đặt sond mũi – mật cắt đứt chu trình gan ruột của độc tố amatoxin.

      Điều trị triệu chứng

      - Điều trị co giật (nếu có) bằng Seduxen: Liều : 0,15-0,25 mg/kg cân nặng, nhắc lại cho đến khi cắt cơn giật chuyển sang duy trì bằng tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch liên tục 0,15 mg/kg/giờ, điều chỉnh liều để đạt liều thấp nhất chống được tái phát co giật.

      - Bồi phụ nước điện giải: lợi tiểu phối hợp với truyền dịch nếu đáp ứng.

      Nếu có suy thận thiểu niệu cần thực hiện tét lợi tiểu như sau:

      - Xác định chắc chắn bệnh nhân không thiếu dịch hoặc đã được bù dịch tương đối đủ (CVP ≥ 5cm nước)

      - Tiêm tĩnh mạch 1 ống furosemid, theo dõi sau 30 nếu không đáp ứng – tiêm TM 2 ống, rồi 5 ống rồi 10 ống, mỗi liều cách nhau 30 phút.

      + Nếu đáp ứng ở liều nào thì ngừng tét ở liều đó và nhắc lại liều hiệu quả mỗi 2 giờ cho đến khi có 3 -5 lít nước tiểu hoặc khi đạt liều tối đa 2g / 24 giờ.

      + Nếu sau phát tiêm 10 ống/ lần không có nước tiểu thì ngừng lợi tiểu và theo dõi chỉ định lọc máu.

      - Lọc máu bằng thận nhân tạo ngắt quãng hoặc liên tục nếu có chỉ định.

      Bảo vệ thế bào gan

      - Thuốc được cho là bảo vệ tế bào gan có hiệu quả giảm tỉ lệ tử vong: Silibinin (silymarin, Leganon): truyền tĩnh mạch 20mg/kg/ngày trong 5 ngày. Đường uống ít tác dụng vì gây tiêu chẩy và uống song hàng với than hoạt đa liều

      - Truyền Glucose, glutathion hoặc acetylcystein (Mucomys), Orrnitin, N- hepa, uống duphalax

      - Truyền huyết tương tươi khi suy gan có PT < 40%

      Lọc gan (albumin hấp phụ-MARS) nêú có biểu hiện suy gan do viêm gan nhiễm độc

      Thay huyết tương nếu không có điều kiện MARS, phương pháp đã được thử nghiệm lâm sàng thay huyết tương phối hợp với CVVH tại Trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai (đề tài cấp Bộ) kết quả có tác dụng tốt đã được nghiệm thu, nhưng tỉ lệ tử vong vân cao (50%). Tuy nhiên chỉ nên thay huyết tương khi lượng truyền bù > 2 lít / ngày mà PT vẫn giảm và có nguy cơ tăng gánh thể tích hoặc Protid máu tăng >70g/lit.

      Ghép gan nếu suy gan nặng, hôn mê gan

      III. PHÒNG TRÁNH

      - Không ăn nấm rừng và nấm mọc tự nhiên bởi rât khó nhận biết nấm độc và nấm không độc. Cần nhớ là ngay cả chuyên gia về nấm cũng có thể bị nhầm nấm độc với nấm lành.

      - Nấm độc nhất cũng có thể bị nhầm với nấm ăn được do trong một vài giai đoạn phát triển chúng giống nhau.

      - Trong đám nầm lành cũng có nấm độc

      - Không phải nâm trắng là nấm không độc.

      - Có những loại nấm độc nhất (amanita) cũng có màu trắng muốt và nấu ăn cũng ngọt “không cần mì chính” nhưng lại là loài nấm chính gây độc ở nước ta

      PHÂN LOẠI NẤM ĐỘC

      Độc tố
      Nấm
      Xuất hiện
      triệu chứng
      Triệu chứng & Dấu hiệu
      Tỉ lệ
      tử vong
      Amatoxins
      - Amauita Phaloides
      - A. ocreata, verna
      - A. virosa. Galerina
      6 - 12 giờ
      nôn, ỉa chảy, vàng, gan to,
      vô niệu, PPC, rối loạn ý thức
      60%
      - 80%



      Monomethylhydrazine
      - Gyromitra
      - Helvelba
      6 - 12 giờ
      nôn, ỉa chẩy, co giật, hôn mê, yếu cơ
      40%
      Allenic nocleucine
      Amanita smithiana
      1 - 6 ngày
      suy thận cấp thiểu niệu, vô niệu

      Orellamine
      Cortiuarius orellanus
      1 - 12 ngày
      viêm thận ống kẽ thận

      Muscarine
      - Clitocybe dealbata
      - Inocybe
      30 phút - 2 giờ
      tiết nước bọt và mồ hôi, nôn, ỉa chảy, co đồng tử
      5%
      Coprine
      Coprinus armamentarius
      (loại giống disulfiram)
      30 phút
      nôn, ỉa chảy, rối loạn nhịp tim
      Hiếm
      Ibotenic acid
      Amanita muscaria
      30 phút-2 giờ
      giống ngộ độc Atropin: Kích thích rộp đỏ da, dãn đồng tử, chướng bụng

      Psilocybin
      Psilocybe cubensis
      30 phút - 1 giờ
      ảo giác, dãn đồng tử, kích thích vật vã


      Kích thích dạ dày ruột
      nhiều loại
      30 phút - 2 giờ
      nôn, ỉa chảy
      Hiếm
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác