• Bộ môn Nội - Đại học Y Hà Nội: thời kỳ chiến tranh chống Mỹ

      26-09-15, 23:43
      Bộ môn Nội - Đại học Y Hà Nội: thời kỳ chiến tranh chống Mỹ
      Ngày 5-8-1964 ngày mở đầu của sự kiện Vịnh Bắc Bộ, mở đầu cho một cuộc chiến tranh dã man và tàn khốc ra toàn cõi Việt Nam của Mỹ Ngụy. Trước tình hình đó, Trường Đại học Y Dược Hà Nội một lần nữa lại sơ tán ra khỏi Hà Nội đến xã Hợp Thành, Phú Lương, Thái Nguyên. Toàn bộ ban lãnh đạo nhà trường, các bộ môn cơ sở, toàn bộ sinh viên học các bộ môn đó lại lên đường đi chiến đấu, một cuộc chuyển quân vĩ đại lần 2 của trường lại diễn ra. Các bộ môn lâm sàng sẽ sơ tán theo các bệnh viện hoặc tùy nghi di tản.

      Bộ môn Nội tuy là Bộ môn lâm sàng nhưng có dạy công tác y tá và phục vụ người bệnh ngay từ năm thứ 2, nên bộ môn hàng năm cũng phải cử người lên địa điểm sơ tán dạy trong khoảng 2 tháng. Địa điểm sơ tán được xây dựng khá khang trang, đàng hoàng, có đầy đủ nhà làm việc, phòng học, phòng thực tập và nhà ở cho sinh viên, cán bộ nhân viên lên tới hàng ngàn người. Mọi người sống rất vui, rộng rãi, phong cảnh đẹp. Chỉ có việc đi lại khá vất vả, hoặc đi tàu hỏa, xe đạp hoặc đi ô tô của nhà trường. Đi xe của nhà trường phải đi chung xe chở hàng hóa, gạo, mỳ, rau cỏ muối mắm, súc vật thí nghiệm... thường phải đi ban đêm. Đoạn từ Đu vào xã Hợp Thành là gian khổ nhất, đoạn đường rất dài khoảng 10 km, nhưng hẹp, lầy lội. Ngày nắng cũng như ngày mưa, ngồi trên xe ô tô chạy trên đoạn đường đó còn hơn đánh vật. Ai đi xe đạp phải xắn quần móng lợn, cầm ghi đông cho chắc. Tôi lúc đó phụ trách giáo vụ, hằng năm phải lên đó một lần, tôi thường đi xe đạp vào ban đêm, cứ đến Đu là quẳng xe đạp đánh một giấc mới đi tiếp, có lần trời đẹp trăng thanh gió mát tôi ngủ thiếp đi, mặt trời lên cao sáng rõ mặt người mà tôi vẫn còn ngủ say sưa, đến nỗi người dân đi đường phải đến đánh thức tôi dậy. May mắn là không mất gì. Có lần sau khi xong việc tôi tạt qua Đồng Hỷ để thăm một người quen sơ tán bên đó, hôm sau mới về tôi bị cụ Khánh - Trưởng pḥng hành chính quát cho một trận: “Sang đó làm gì, sao không báo cáo”. Tình hình lúc đó là như vậy, mình phải chấp nhận sự quát tháo ấy. Tôi không nói gì.

      Các tổ sinh viện học lâm sàng tại bộ môn lúc đó có thể chia làm nhiều nhóm đi sơ tán:

      - Nhóm vẫn học ở Bệnh viện Bạch Mai, nay sơ tán bớt ra các bệnh viện khác của Hà Nội như bệnh viện thành phố Hà Nội tại Đoàn Thị Điểm, Bệnh viện Saint Paul, Bệnh viện Đống Đa...

      - Nhóm đi thực tế chiến đấu tại các vùng có chiến tranh ác liệt từ Thanh Hóa đến Nghệ An, Quảng Bình, các thầy phải tự đi bằng xe đạp đến các nơi đó, mệt đâu nghỉ đó.

      - Nhóm đi sơ tán tại Hải Phòng (Bệnh viện Việt Tiệp). Bác sĩ Tâm là phó giám đốc bệnh viện lúc đó là người rất nhiệt tình với trường Y đã chủ động gợi ý với trường đưa sinh viên xuống đó - một con người có một không hai. Mọi phí tổn hậu cần nơi ăn chốn ở đi lại bệnh viện sẽ lo hết. Đến Hải Phòng lại phải sơ tán một lần nữa đến Hợp Thành, Thủy Nguyên...

      - Nhóm đi sơ tán ngoài địa phận Hà Nội nhiều nhất, chia thành các ngả: ngả đi theo đường 5 đến Hưng Yên (Dâu), ngả đi theo đường 1 đến Thường Tín, Phú Xuyên, Phủ Lư, Châu Giang, xa hơn đến Yên Khánh, Kim Sơn Ninh Thường... ngả đi theo đường 6: Bệnh viện Hà Đông, Chuông, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Bệnh viện Sơn Tây, Đồng Mai, Mía...

      Tổng cộng khoảng vài chục địa điểm, mỗi thầy đi với một tổ đến một địa điểm Việc học tập và giảng dạy lúc đó ở nơi sơ tán là như thế nào? Có gì học nấy, sinh viên học khá chăm chỉ và sôi nổi. Các thầy giảng lúc đó là giảng toàn bộ các bệnh về Nội, không giảng theo chuyên khoa như bây giờ. Hầu hết là giảng chay, xét nghiệm rất ít. Tôi vẫn nói đùa là giảng đại, giảng bạt mạng. Làm gì có giáo trình, giáo án, làm gì có thời gian để chuẩn bị bệnh nhân, có bệnh nhân là giảng. Thế nhưng lớp các thầy giảng thời đó, sau này đều là những thầy giỏi, có kiến thức rộng, nhăn quan rộng.

      Học sinh học thời đó, sau này đều là thầy thuốc giỏi ở các nơi, các bệnh viện huyện tỉnh. Cuối đợt học cũng có kiểm tra nhưng nhẹ nhàng đơn giản, chủ yếu là thực hành, cuối mỗi khóa đều có thi tốt nghiệp, thi cả lư thuyết và thực hành ngay tại nơi sơ tán, gồm thầy giảng của tổ và và các thầy khác bộ môn cử đến.

      Việc ăn ở nơi sơ tán? Thầy trò cùng ở trong nhà dân, cùng ăn tập trung ở nhà bếp. Các tổ đi sơ tán đều báo cho nhà trường thời gian và nơi đến, trường sẽ lo cung cấp hậu cần cho tổ đó, kể từ gạo cho đến chất đốt, thậm chí có cả chị nuôi đi theo. Sinh viên kiếm thêm được món gì lại mang đến cho thầy. Gạo thì một bữa ngon, hai bữa gạo vàng, gạo mốc. Càng về sau gạo cũng không có đủ phải ăn thêm bo bo, măi cũng chán thì ăn bột mỳ, nắm thành nắm ném vỡ đầu, hoặc cán thành bánh dày như bàn tay, hoặc lương khô trùng quốc. Cuộc sống tuy gian khổ nhưng rất vui.

      Việc đi lại lúc đó ra sao? Chủ yếu là xe đạp mà là xe đạp nội như Thống Nhất, Hà Nội. Ai có được xe đạp Phượng Hoàng Trung Quốc là tốt lắm rồi. Tôi chơi sang mua được chiếc Mobylette cũ, đi lại oách hơn, đỡ vất vả hơn, sướng hơn, nhưng mỗi khi bị hỏng hóc nhất là hỏng dọc đường, hỏng ban đêm nơi không có hiệu sửa xe thì còn nhục hơn những người khác, có lần tôi đa phải thuê xe bò chở mobylette về nhà. Sau này tôi phải bán nó đi để trở về với cuộc đời xe đạp cọc cạch như trước.

      Việc điều hành bộ môn lúc đó? Rất đơn giản, họp hành ít lắm. Cứ hết một đợt học của sinh viên thì các thầy về bộ môn nhận kế hoạch mới. Các đợt học của sinh viên thì kết thúc không cùng một lúc. Ví dụ: Y4 kết thúc vào một thời gian này, nhưng Y5 lại kết thúc vào một thời gian khác. Các thầy đi Hải Phòng có khi 5, 6 tháng mới về một lần, các thầy đi thực tế chiến đấu lại càng khó về hơn. Do đó các buổi họp bộ môn thường không đầy đủ. Mỗi năm gặp nhau một lần vào dịp kết thúc năm học mới được gọi là đầy đủ. Mỗi thầy lúc đó là một tư lệnh của một tổ sinh viên ở nơi sơ tán. Các thầy cô rất tự giác, sinh viên cũng rất tự giác.

      Việc kết hợp các đơn vị bộ đội bảo vệ thủ đô lúc đó? Bộ môn cũng có đặt vấn đề,có mời đại diện một vài đơn vị bộ đội đến bộ môn để bàn kế hoạch phục vụ chiến đấu, nhưng trên thực tế không làm được mấy, vì cán bộ của bộ môn đi sơ tán gần hết. Mặt khác những trận đánh thường xảy ra rất bất chợt, đơn vị bộ đội kết nghĩa thường là ở xa, ngoại thành Hà Nội, bộ môn có đến cũng không kịp. Việc đi lại lúc có chiến sự thường bị cản trở, do đó bộ môn không giúp cho đơn vị bộ đội kết nghĩa một lần nào.


      GS. Phạm Khuê và Chi đoàn Bộ môn Nội đi thăm chùa Đậu ngày 30/11/1986

      Bộ môn Nội năm 1972

      Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ trên miền Bắc ngày một căng thẳng và ác liệt. Hà Nội đa hứng chịu nhiều cuộc ném bom dă man, nhất là khu xăng dầu Đức Giang và cầu Long Biên, trong nội thành cũng có một vài nơi bị chúng ném bom, ví dụ số nhà 65 phố Bà Triệu ngay cạnh nhà tôi (số nhà 63) trước đây là Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, nhưng đa dọn đi rất lâu mà chỉ còn là nơi ở của nhân viên đài phát thanh mà thôi. Bọn Mỹ tưởng nhầm nên đa ném bom trúng phá hủy hoàn toàn hai ngôi nhà đó. Năm 1972 là năm ngày càng có tin đồn về những cuộc rải thảm bằng B52 ở Hà Nội, đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá. Cả Hà Nội đều đi sơ tán, không một gia đinh nào dám ở lại Hà Nội. Có gia đinh đi sơ tán 2, 3 nơi; ông bà cháu chắt đi sơ tán một nơi, con trai đi sơ tán một nơi theo cơ quan, con gái lại đi sơ tán một nơi khác nữa cũng theo cơ quan. Điều đó cũng có lợi là nếu bị bom Mỹ rải thảm thì chỉ mợt nơi bị, cái bất lợi là việc thăm nom tiếp tế là rất khó khăn, rất mất thời gian. Nhiều gia đinh rõi vào cảnh như thế, mỗi tuần cử một người về Hà Nội, vào một ngày nào đó lấy lương thực thực phẩm và các đồ vật cần thiết rồi nhanh chóng chất lên xe đạp chở đến nơi sơ tán bất kể là đêm hay ngày. Có thể nói năm 1972 là năm nhịp sống Hà Nội tất bật hối hả hơn, nhưng cũng yên lặng hơn, phố xá vắng vẻ, không có những cuộc tụ tập đông người, mọi người ít gặp nhau, có gặp cũng chỉ chào hỏi dăm ba câu rồi người nào đi công việc của người ấy, nhanh chóng rời khỏi Hà Nội. Ngược lại không khí chuẩn bị chiến đấu thì hừng hực sục sôi, người Hà Nội sẵn sàng đón tiếp cuộc chiến B52 một cách thường tĩnh và lạnh lùng đến lạ thường. Các thầy đưa sinh viên đi sơ tán ở những đâu thì bộ môn nắm được, nhưng còn gia đinh các thầy đi sơ tán ở đâu thì chịu không biết hết được. Giả dụ có thầy nào đó bị làm sao thì không thể báo cho gia đinh thầy đó biết được. Lúc đó tôi ở với mẹ tôi, tôi gửi cụ đi sơ tán ở Đại Mỗ, một thời gian rồi chuyển sang Miêu Nha, một hai tuần tôi mới tiếp tế cho cụ một lần, mọi sinh hoạt cụ phải tự lo. Bộ môn không ai biết tôi cho mẹ tôi đi sơ tán ở đâu. Tình trạng chung lúc đó là như vậy. Trong khi bà cụ tôi đi sơ tán thì tôi đón giáo sư Khuê về nhà tôi. Nhà tôi rất chật, nhưng anh bảo ở vị trí này an toàn hơn vì nó là trung tâm, gần nhà thờ lớn (từ 51 Hàng Trống đến nhà thờ Lớn chỉ khoảng 100 m), gần cả Bệnh viện Việt Đức nữa, dù Mỹ có điên cuồng đến đâu thì cũng phải trừ chỗ này, trừ phi không may thì phải chấp nhận. Hơn nữa tôi có xây một hầm bê tông ngoài nhà bếp, không sợ bị sập hầm. Giáo sư Khuê sơ tán đến nhà tôi, nhưng gia đinh anh đi sơ tán ở đâu tôi không biết, vì anh nói nay chỗ này mai chỗ khác. Ngay đến gia đinh giáo sư Chung lúc đó sống thế nào, sơ tán ở đâu tôi cũng không biết. Chúng tôi nghĩ cụ đa có người khác lo rồi. Thực ra không phải không quan tâm đến nhau mà là vì lúc đó quá nhiều việc phải làm, phải lo, mà có lo cũng không nổi, mỗi người phải tự lo cho mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình. Chỉ có một việc làm mà ai cũng giống nhau, cả Hà Nội cũng giống nhau. Đó là mỗi buổi sáng khi đi làm ai cũng mang theo một cặp lồng cơm trưa, trong đó không thể thiếu mấy quả cà và dúm muối vừng, ai không may đánh rõi cặp lồng cơm trên đường thì phải ăn ké người khác hoặc nhịn đói.


      GS. Phạm Khuê cùng BS. Nguyễn Lân Việt liên hoan với các NT Nội tại phòng Nội trú

      Mang tiếng là sống ở Hà Nội, nhưng trong những năm tháng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, tôi sống ở các địa phương ngoài Hà Nội là chính, cộng dồn lại tôi chỉ có mặt ở Hà Nội khoảng 3 tháng (90 ngày) là cùng. Vào một ngày cuối tháng 6-1972, tôi đến thăm một tổ sinh viên đang học tập ở Bệnh viện Saint Paul, khoảng 9h tối có còi báo động, mọi người chạy xuống hầm, một lúc lâu sau thì có tiếng sung nổ rầm trời, đinh tai nhức óc, mọi người phải bịt chặt lỗ tai, sung nổ cứ từng đợt một, hết đợt này đến đợt khác, không biết bao nhiêu đợt mà kể. Khoảng quá nửa đêm thì tiếng súng im hẳn. Ở trong hầm không biết súng bắn hướng nào, lúc chui ra khỏi hầm cũng không biết Mỹ ném bom ở đâu, chỉ thấy Hà Nội tối om. Khoảng một giờ sau có tin chúng rải thảm khu An Dương - thương vong đa bắt đầu chuyển đến Bệnh viện Saint Paul. Tôi bổ nhào về Bệnh viện Bạch Mai, về đến nơi mới biết Bệnh viện Bạch Mai cũng bị rải thảm trong đêm hôm đó. Nhà cửa đổ nát tan hoang, khu Da liễu, Tai mũi họng và khu Nội bị nặng nề nhất. Nhiều người đang tập trung ở khu đổ nát vì bom Mỹ, trong đó có Giám đốc Bệnh viện Đỗ Doãn Đại, bác sĩ Chu Văn Ư trưởng khoa hô hấp ... vẻ mặt buồn rầu, đăm chiêu mệt mỏi. Nhiều ý kiến cứu sập được đưa ra bàn bạc, nhưng đều bó tay đứng nh́n, vì tay không không thể làm gì được với những mảng tường, mảng bê tông đang đổ sập lên những người đang bị vùi lấp bên trong, những giọt nước mắt chảy dài trên khuôn mặt nhiều người, đâu đó có tiếng sụt sùi thương nhớ. Duy chỉ có đội cứu hộ của bệnh viện gồm một số sinh viên và nhân viên khoa ngoại miệt mài làm việc, họ đa tìm được một con đường hầm từ đầu nhà C1 và đưa dây dẫn ôxy vào tới chỗ bị sập rồi lách qua những khe hở của đống đổ nát mà bơm ôxy vào bên trong, không biết ôxy có đến tận chỗ những người đang bị đè sập trong đó hay không, chỉ biết ôxy có vào được đến khu vực đó. Một em sinh viên trong đội cấp cứu nói với tôi, em có nghe thấy tiếng một phụ nữ trẻ trong đó nói ra: hãy cứu chúng em với, tiếng nói không có vẻ gì là mệt mỏi hoặc bị chèn ép gì, tiếng nói vẫn thường thường, chỉ nghe nhỏ hơn thôi, không biết có phải là tiếng nói của bạn Thúy không, hôm trước bạn ấy có nói chuyện với em là bạn ấy trực ở khoa Nội, còn em trực bên Ngoại. Tôi hỏi bạn Thúy có mẹ cũng là bác sĩ làm ở trường Đại học sư phạm phải không? Tôi biết em ấy. Em sinh viên trả lời: đúng đấy thầy ạ. Tôi nói: Ta phải làm gì để cứu em và những người khác bị chôn vùi trong đống đổ nát này. Nhưng tất cả đều bất lực. Đành phải chờ đội cứu hộ của thành phố chở, cần cẩu và các phương tiện cứu hộ đến. Em sinh viên dẫn tôi chui vào đường hầm đến cạnh đống bê tông sập, quả thật đúng như em sinh viên nói, tôi vẫn nghe được tiếng kêu cứu trong đó vọng ra, tuy nhỏ nhưng nghe rõ: “Cứu chúng em với”. Tôi hình dung người kêu trong đó không bị đè sập hẳn, mà chỉ bị hạn chế cử động, vì tiếng nói vẫn thường thường chỉ nghe nhỏ hơn, giống như tiếng vọng trong hang núi vọng ra thì đúng hơn. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ tiếng vọng ấy, tiếng vọng làm tôi ân hận suốt đời. Sau khi quan sát dưới đường hầm, tôi đề nghị đục bức tường ngăn cách giữa đường hầm và khu vực cầu thang bị sập, nhưng đã bị đội cứu hộ bác bỏ, vì sợ nguy hiểm hơn. Tiếng kêu cứu mỗi lúc một yếu dần và thưa dần, đến chiều thì tắt hẳn. Biết là hết hy vọng nên ống dẫn ôxy cũng được rút ra. Ngày hôm sau khi đã gỡ được đống đổ nát để đi vào bên trong thì mới biết người kêu cứu chính là em sinh viên Y6 tên Thúy, như em sinh viên cứu hộ nói, em bị một tấm bê tông đè lên người làm em không ngồi thẳng lên được mà hơi bị cúi gập người xuống. Người thứ 2 là chị Lan y tá khoa hô hấp, người to béo, to béo hơn cả tây, bị đè nặng hơn nên chết ngay. Biết được tin này tôi mới thấy nuối tiếc và ân hận. Tôi đa không kiên quyết bảo vệ ý kiến của mình. Cho đến lúc ấy tôi vẫn nghĩ nếu đục tường thì khả năng cứu sống em là rất cao tới 90%, nhưng sự việc đa qua rồi. Sau này mỗi khi suy nghĩ về cuộc đời, tôi vẫn nghĩ rằng trong đời có những khoảnh khắc quyết định nhất cũng cần phải có tính quyết đoán nhất, và liều lĩnh một chút. Việc không cứu được em Thúy là một trong những ân hận đáng tiếc nhất của đời tôi. Họ đã chết để cho chúng ta sống hôm nay.

      Khi người Pháp xây dựng bệnh viện, từ cửa C7 đến cửa C1 là một hành lang rộng, bên dưới là một đường hầm để chở xác chết xuống khu nhà xác, không chở trên mặt đất như bây giờ. Không biết một quả bom hay một chùm bom đa rõi xuống khu đất trống phía sau sát cạnh khu vực chân cầu thang giữa C1-C3 để đi lên C2-C4, thành một hố sâu và rộng như một cái ao, làm bật tung cả móng tường chân cầu thang, toàn bộ tường phía sau cầu thang bị sập kéo theo cả cầu thang cũng sập theo. Nếu bom rõi trên nóc sân thượng thì thiệt hại không nặng nề như thế, cùng lắm là sập sân thượng đè xuống hành lang phía dưới, do bị bom phá hủy khá nặng nề nên đoạn tường ngăn cách gầm cầu thang và đường hầm cũng bị sứt nẻ nghiêng ngả, vôi vữa bung ra lấp gần hết đường đi, nhưng vẫn còn chỗ trống chúng tôi đi qua được, nhờ đó mà tổ cứu hộ mới đưa được đường ống dẫn Oxy vào.

      Rất may cho tôi tối hôm đó tôi lại đến Bệnh viện Saint Paul, nếu tôi đến Bệnh viện Bạch Mai thì chắc chắn tôi cũng cùng số phận như em Thúy và chị Lan, vì trước đây, mỗi khi có báo động tôi thường hay xuống hầm ngồi ở gầm cầu thang. Tôi mừng thầm vì mình đa thoát chết. Sáu tháng sau vào một ngày cuối tháng 12/1972, Tình cờ tôi gặp anh Phạm Phúc Sinh cùng ở bộ môn Vi trùng học với tôi, khi mới tốt nghiệp ra trường, anh bảo tôi: tao mới về trưa nay, tối mày xuống tao ngủ, trưa mai tao lại đi rồi, nhà tao ở ngơ chợ Khâm Thiên, có bể nước ngầm kiên cố lắm, bây giờ dùng làm hầm trú ẩn, trừ khi bom rõi trúng hầm mới chết, nếu không thì không thể chết được. Tôi hứa với anh: “Ừ tối tao sẽ xuống ngủ với máy, thời buổi chiến tranh sống chết lúc nào không biết, gặp nhau là quý rồi”. Đúng tối hôm đó có người quen ở nơi mẹ tôi sơ tán báo tin mẹ tôi mệt, thế là tôi phải chuẩn bị lương thực và một vài đồ dùng để ngày mai mang vào cho cụ, đành lỡ hẹn với anh Sinh. Ngay đêm hôm đó giặc Mỹ rải thảm Khâm Thiên, một quả bom rõi trúng bể nước ngầm mà anh Sinh nằm trong đó. Vài ngày sau hỏi thăm tôi mới biết anh đã chết. Lại một lần thứ hai tôi hú vía thoát chết. Tôi mừng thầm trong bụng: Số mình cao số đây, bọn Mỹ có muốn giết mình cũng không phải dễ đâu.

      Cho đến tận bây giờ, hơn 40 năm đa trôi qua, tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi những âm thanh của Đài tiếng nói Việt Nam: Đồng bào chú ý, đống bào chú ý, tiếng súng đanh thép vang trời từng đợt dồn dập, tiếng kêu cứu nhỏ bé trong veo của em Thúy: cứu chúng em với, cứu chúng em với. Đó không chỉ là tiếng kêu cứu của một con người đang bị nạn do giặc Mỹ gây nên, mà là tiếng vong của âm hồn, của đất nước từ xa xưa vọng lại. Những âm thanh ấy đa gây cho tôi những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ đau xót đến giận dữ, sục sôi đến nuối tiếc, căm hờn... Tiếng súng nổ đanh thép vang trời, tiếng nói từ Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam là âm thanh của hiện tại, tiếng kêu cứu của em Thúy là tiếng vọng của non sông đất nước, tiếng giục giă thôi thúc lòng người. Không biết đến bao giờ những cung bậc cảm xúc ấy mới lắng dịu trong tâm hồn tôi, tâm hồn của một con người đa đi qua 3 cuộc kháng chiến: chống Pháp, chống Mỹ và chống Pol Pot. Tôi chỉ cầu mong cho đất nước được thanh bình, khát vọng hòa bình được ngự trị trên mảnh đất này dù chỉ một ngày, để không bao giờ phải nghe những âm thanh chát chúa inh tai nhức óc, mà chỉ được nghe những âm thanh dịu hiền ngọt ngào như lời ru của mẹ, như tiếng hát của trẻ thơ và tiếng hót lảnh lót của những con chim họa mi. Ôi! Hạnh phúc biết bao.

      GS. TS. Nguyễn Khánh Trạch
      Trường Đại học Y Hà Nội
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác