• Bệnh sởi ở trẻ em (Rougeole)

      15-04-14, 00:08
      Bệnh sởi ở trẻ em (Rougeole)
      Vaccin phòng bệnh sởi rất có hiệu quả, nhưng khả năng bảo vệ chỉ đạt khoảng 90% nếu chỉ tiêm có 1 liều. Chỉ có những nước thực hiện việc phòng bệnh bằng tiêm 2 liều vaccin (liều đầu tiên lúc 12 tháng, có thể sớm hơn lúc 9 tháng và nhắc lại liều hai lúc 16-18 tháng) thì mới có khả năng loại trừ được bệnh này

      DỊCH TỄ HỌC

      Sởi là bệnh sốt phát ban thường gặp nhất ở trẻ em trên tòan thế giới.

      Các biến chứng của nó (hiếm gặp ở các nước có trình độ kinh tế-xã hội cao) thường xảy ra ở các nước kém phát triển, là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em.

      Bệnh nặng hơn, gây nguy kịch ở trẻ <1 tuổi, người lớn, phụ nữ có thai và người suy giảm miễn dịch.

      Không chỉ ở Việt Nam nơi dịch sởi đang hoành hành, nó còn là bệnh nhiễm trùng cho thời hiện tại ở Châu Âu. Tiến triển bệnh mang yếu tố dịch tễ học (mode endémo-épidémique) mặc dù vaccin có hiệu quả đã được thực hiện từ 40 năm nay. Bênh sởi cũng không trừ nước Pháp ra, với hơn 5000 cas được báo cáo trong hai năm 2008-2010. Giải thích cho điều này là do vaccin không phủ rộng hết (<90%), đó là những chủ thể không được bảo vệ, gây lan truyền bệnh giữa người và người.

      Vaccin phòng bệnh sởi rất có hiệu quả, nhưng khả năng bảo vệ chỉ đạt khoảng 90% nếu chỉ tiêm có 1 liều. Chỉ có những nước thực hiện việc phòng bệnh bằng tiêm 2 liều vaccin (liều đầu tiên lúc 12 tháng, có thể sớm hơn lúc 9 tháng và nhắc lại liều hai lúc 16-18 tháng) thì mới có khả năng loại trừ được bệnh này.

      NHẮC LẠI VỀ NHIỄM TRÙNG HỌC

      Virus gây bệnh sởi thuộc nhóm paramyxovirus, được gọi tên là Morbillivirus (virus sởi).

      Thông thường trẻ sơ sinh được bảo vệ bởi kháng thể truyền sang từ người mẹ đến lúc 6 tháng tuổi, với điều kiện là người mẹ này đã được tiêm vaccin đủ 2 liều hoặc đã nhiễm bệnh sởi. (Cần khuyến khích cho con bú mẹ hoàn toàn ít nhất là trong 6 tháng đầu đời).

      Bệnh sởi tạo miễn dịch vĩnh viễn suốt đời cho người mắc bệnh này.

      Vaccin phòng sởi được khuyến cáo cho tất cả trẻ nhỏ: phòng bệnh bằng tiêm 2 liều vaccin (liều đầu tiên lúc 12 tháng và nhắc lại liều hai lúc 16-18 tháng)

      Sởi lây trực tiếp từ người sang người, bằng đường hô hấp, chủ yếu từ những giọt nước bọt nhỏ bắn ra từ người bệnh (khi nói, ho, hắt hơi, sổ mũi…).

      Thời gian ủ bệnh kéo dài 10 ngày.

      Khả năng lây lan bệnh cực kỳ cao bằng đường hô hấp, ngay từ khi mới bắt đầu xâm nhập (phase d’invasion) cho đến 5 ngày sau khi phát ban. (Do đó cần cách ly trẻ bệnh, cho trẻ nghỉ học+tránh đi nhà trẻ trong thời kỳ này)

      CHẨN ĐOÁN

      Lâm sàng

      Tiền sử: hai bằng chứng gợi ý chẩn đoán

      - Chưa từng mắc bênh sởi hoặc chưa từng tiêm vaccin phòng sởi.

      - Có nguồn lây 2 tuần trước khi phát ban (10 ngày ủ bệnh+4 ngày xâm nhập)

      Thời kỳ xâm nhập: (viêm long hoặc tiền phát ban) kéo dài 4 ngày có đặc trưng sau

      - Sốt cao (>39 độ C)

      - Viêm long đường hô hấp và mắt: chảy nước mắt, viêm kết mạc, chảy nước mũi và ho.

      - Viêm long đường tiêu hóa: tiêu chảy và đau bụng

      - Đôi khi vào cuối thời kỳ viêm long có dấu hiệu Köplik


      Dấu hiệu Köplik - Chấm trắng phơn phớt xanh trên niêm mạc viêm vùng má, giới hạn rõ.

      Thời kỳ phát ban bắt đầu: sau 2 tuần bị lây bệnh, đặc trưng bởi

      - Ban dạng sởi
      + dạng dát sẩn, không ngứa, xen kẽ vùng da lành;
      + ban mọc khởi đầu ở vùng sau tai, rồi trong vòng 24-48 giờ lan ra vùng đầu mặt, và lan xuống toàn thân, ban phát một đợt duy nhất kéo dài 3-4 ngày;
      + rồi thoái lui trong vòng 1 tuần theo trật tự khi nó xuất hiện.

      - Sốt giảm dần khi ban bùng phát, nếu sốt trở lại khi ban bùng phát toàn thân là dấu hiệu bội nhiễm kèm theo.

      - Các triệu chứng khác như viêm kết mạc, chảy mũi, ho vẫn còn kèm theo.

      Các biến chứng có thể gặp

      - Biến chứng nhiễm trùng (cần nghĩ đến khi sốt cao trở lại)
      + Viêm thanh quản cấp sớm, viêm phế quản, viêm phổi (lan tỏa virus ở đường hô hấp, bệnh lành tính)
      + Bội nhiễm phổi (staphylocoque, pneumocoque): viêm phổi nặng do hậu quả của việc tổn thương phế nang lan tỏa, gây suy hô hấp nặng; ở trẻ suy dinh dưỡng có thể gặp biến chứng tràn mủ màng phổi+viêm phổi nặng do Haemophilus, phế cầu hoặc tụ cầu.
      + Viêm tai giữa (bội nhiễm vi khuẩn)

      - Biến chứng thần kinh (hiếm gặp, khoảng 1/1000 cas)
      + Viêm não do sởi (ở giai đoạn cấp): sau 2-7 ngày phát ban, triệu chứng thần kinh đa dạng và không đặc hiệu, gây tử vong khoảng 15-20% cas. Khoảng 1/3 cas để lại di chứng nặng nề (trí thông minh suy giảm, hệ thống thần kinh suy sụt…)
      + Viêm não lan tỏa có tính chất xơ cứng bán cấp (Pan-encéphalite sclérosante subaigue), còn gọi là bệnh Van Bogaert do sởi: biến chứng muộn của sởi, xảy ra trong vòng 5-10 năm sau: triệu chứng gợi ý bệnh là rối loạn hành vi trước khi xuất hiện các vận động bất thường (tăng động từng đợt ở chi trên và vùng đầu mặt). Bệnh gây tử vong trong khoảng 1 đến 2 năm sau trong bệnh cảnh tăng trương lực cơ toàn thân.

      Những biến chứng nặng nề này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của việc tiêm vaccin phòng bệnh sởi.

      Cận lâm sàng

      - Chẩn đoán sởi điển hình trước hết là dựa vào triệu chứng lâm sàng.

      - Ở Pháp, đây là bệnh bắt buộc phải báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền (déclaration obligatoire à l’Agence régionale de santé) nên việc chẩn đoán xác định bênh sởi phải được thực hiện một cách hệ thống
      + Tìm IgM đặc hiệu (trong nước bọt hoặc huyết thanh)
      + Định lượng IgG bằng 2 lần xét nghiệm (giai đoạn cấp và hồi phục): có ý nghĩa chẩn đoán bênh nếu hiệu giá kháng thể tăng gấp 4 lần nếu không có vaccin trong vòng 2 tháng gần đây.
      + Chẩn đoán trực tiếp bằng kỹ thuật PCR và/hoặc cấy tìm virus sởi.

      ĐIỀU TRỊ

      Điều trị triệu chứng là chủ yếu

      - Sốt: dùng các biện pháp cơ học: cho trẻ uống nhiều nước, đặc biệt oresol, cởi bỏ bớt quần áo, giữ nhiệt độ phòng thoáng mát…và dùng thuốc hạ sốt (paracetamol) khi trẻ sốt cao > 38,5 độ C.

      - Nếu có biến chứng nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh thích hợp theo kinh nghiệm.

      - Bổ sung thêm vitamine A cho trẻ.

      Điều trị dự phòng

      - Sởi là bệnh lây lan mạnh, cần báo cáo ngay lập tức cho cơ quan có thẩm quyền (Sở Y tế, Bộ Y tế) nhằm điều tra cas bệnh, tầm soát bệnh về mặt dịch tễ học.

      - Bệnh nhân sởi cần được cách ly hô hấp, trẻ bệnh phải nghỉ học cho đến 5 ngày sau khi bắt đầu phát ban. Và tránh tuyệt đối tiếp xúc với các cá thể chưa có miễn dịch (trẻ sơ sinh, phụ nữ có thai chưa tiêm phòng sởi hoặc chưa bị mắc sởi…).

      - Các biện pháp dự phòng sau khi có 1 cas bệnh sởi được chẩn đoán được tiến hành như sau
      + Tìm kiếm một cách có hệ thống những trường hợp bệnh khác: nguồn lây và cas nhiễm thứ phát;
      + Kiểm tra tình trạng tiêm chủng của các cá thể có tiếp xúc với cas bệnh này (Các cá thể có tiếp xúc với cas bệnh được xác định là những người có tiếp xúc gần như người trong gia đình, lớp học từ 1 ngày trước khi bệnh nhân sốt cho đến 5 ngày sau khi phát ban).
      + Áp dụng ngay các biện pháp phòng ngừa sau đây cho các cá thể tiếp xúc cas bệnh, chú ý rằng các biện pháp này chỉ hiệu quả trong vòng 3 ngày sau phơi nhiễm

      Cá thể có tiếp xúc cas bệnh (Sujets contacts)
      Biện pháp điều trị dự phòng
      Trẻ nhỏ dưới 6 tháng
      • Nếu mẹ đã được bảo vệ (nghĩa là mẹ đã có tiền sử mắc bệnh sởi hoặc đã được vaccin phòng sởi đủ 2 liều) : không cần biện pháp dự phòng nào cả (nếu cần xét nghiệm huyết thanh mẹ định lượng Ac anti-rougeole)
      • Nếu mẹ không được bảo vệ (chưa mắc bệnh sởi hoặc chưa tiêm phòng sởi): Immunoglobulines polyvalentes đường tĩnh mạch ngay cho con (chỉ hiệu quả trong vòng 3 ngày sau phơi nhiễm)
      Trẻ nhỏ từ 6-12 tháng
      • Nếu chưa tiêm phòng : Tiêm liều đầu tiên phòng ROR (Rougeole, Oreillons et Rubéole) trong vòng 72h sau phơi nhiễm và liều thứ hai theo lịch tiêm chủng.
      • Nếu trẻ đã được tiêm phòng : không cần biện pháp dự phòng nào cả.
      Trẻ từ 1 đến 18 tuổi
      • Nếu chưa tiêm phòng : tiêm phòng ngay 2 liều ROR cách nhau 1 tháng.
      • Nếu đã tiêm phòng đủ : không cần biện pháp dự phòng nào cả.
      Người lớn
      • 1 liều ROR (ngay cả khi đã được tiêm phòng 1 liều trước đây)
      • 2 liều ROR (cách nhau 1 tháng) trong trường hợp có ổ dịch
      Cơ địa đặc biệt
      • Phụ nữ có thai nếu chưa mắc bệnh sởi hoặc chưa tiêm phòng sởi : Immunoglobulines polyvalentes đường tĩnh mạch.
      • Người bị suy giảm miễn dịch (SIDA, đang điều trị hóa chất trị ung thư, dùng corticoides lâu dài…) : Ig polyvalentes dự phòng (bất kể đã có tiêm phòng sởi hay chưa).

      Tài liệu tham khảo
      1. Pédiatrie-5e édition-NXB Elsevier Masson 2011-Pr A.Bourillon chủ biên.
      2. Pédiatrie pour le praticien-6eédition-NXB Elsevier Masson 2011- Pr E.Grimprel
      3. http://www.e-vaccination.fr/rougeole/clinique/


      Bác sĩ Trần Thị Mai Chinh1

      1
      Cựu Nội trú K26, Đại học Y Hà Nội; Hiện đang định cư và làm việc tại Cộng hòa Pháp
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác