• Bệnh nấm sâu (deep fungal infections)

      by
      24-01-15, 00:31
      Bệnh nấm sâu (deep fungal infections)
      Bệnh nấm sâu là bệnh mạn tính. Nguồn bệnh thường ở môi trường bên ngoài như: đất, lá cây…(trừ 2 trường hợp: Actinomycosis và Candidiasis). Đường xâm nhập: qua da và đường hô hấp. Một số bệnh nấm sâu là nấm cơ hội, gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch như: Candidiasis, Histoplasmosis, Cryptococcosis…

      BỆNH NẤM SÂU (DEEP FUNGAL INFECTIONS)

      Bác sĩ Nguyễn Khánh Hòa Đồng
      Bộ môn Da liễu, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

      I. ĐẠI CƯƠNG

      - Là bệnh mạn tính. Nguồn bệnh thường ở môi trường bên ngoài như: đất, lá cây…(trừ 2 trường hợp: Actinomycosis và Candidiasis). Đường xâm nhập: qua da và đường hô hấp. Một số bệnh Nấm sâu là nấm cơ hội, gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch như: Candidiasis, Histoplasmosis, Cryptococcosis…

      - Trừ Actinomyces israelii là yếm khí, còn lại đều ái khí, do đó phân lập được vi nấm dễ dàng bằng môi trường Sabouraud ở nhiệt độ phòng thí nghiệm. Vi nấm mọc rất chậm (cần 1-5 tuần), nên chỉ kết luận (-) khi sau 1 tháng cấy mà không mọc.

      - Về mặt lâm sàng giống nhiều bệnh mạn tính do đó cần chẩn đoán (+) bằng nuôi cấy nấm. Không phân biệt tuyệt đối Nấm nông với Nấm sâu, vì một loại vi nấm có thể gây bệnh vừa ở da, vừa ở nội tạng (như Candida albicans). Bệnh nhân nhiễm nấm ở mô dưới da thường có các dấu hiệu liên quan đến da; ngược lại, bệnh nhân nhiễm nấm hệ thống không chỉ có các tổn thương da mà còn biểu hiện ở các cơ quan khác trong cơ thể.

      II. NHIỄM NẤM Ở MÔ DƯỚI DA (SUBCUTANEOUS INFECTIONS)

      Nhiễm nấm ở mô dưới da là tình trạng nhiễm trùng gây ra do nấm mà chúng hiện diện trực tiếp trên lớp bì hoặc mô dưới da từ các vết thương xuyên da, đa số gặp ở vùng nhiệt đới nhưng đôi khi cũng gặp ở các vùng có khí hậu lạnh (như sporotrichosis). Thường gặp nhất là: sporotrichosis, chromoblastomycosis, mycetoma; hiếm gặp hơn là lopomycosis, zygomycosis.

      A. SPOROTRICHOSIS

      1. Dịch tễ học và căn nguyên

      - Sporotrichosis là một bệnh mạn tính ở mô dưới da, có liên quan đến hệ bạch huyết, gây ra do vi nấm Sporothrix schenkii, đặc tính của bệnh là vi nấm lan ra theo đường bạch huyết gây các sang thương dạng cục dọc theo mạch bạch huyết nông.

      - Sporothrix schenkii là một loại nấm lưỡng hình, sống hoại sinh ở đất, lá cây mục, xâm nhập cơ thể qua da, vết trầy xước trên da, niêm mạc. Thường gặp ở Nam > Nữ, phần lớn ở độ tuổi lao động. Là bệnh nghề nghiệp của người làm vườn, làm rẫy, thợ mỏ, nhân viên phòng thí nghiệm. Hiếm hơn, do hít, do nuốt gây nên nhiễm trùng hệ thống; nhiễm sporotrichosis ở da của mèo cũng lây truyền sang người.

      - Bệnh xảy ra ở tất cả các vùng trên thế giới, phần lớn ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới.

      - Các yếu tố nguy cơ: có bệnh lý tại chỗ (tiểu đường, nghiện rượu); hoặc có bệnh lý lan tỏa (nhiễm HIV, carcinoma, bệnh lý huyết học, đang điều trị bằng thuốc giảm miễn dịch..)

      2. Sinh bệnh học

      Sau khi xâm nhập vào mô dưới da, S.schenkii phát triển tại chỗ.Nhiễm trùng có thể giới hạn tại vị trí xâm nhập (thể da, plaque sporotrichosis) hoặc phát triển vào các kênh bạch huyết lân cận (thể mạch bạch huyết, lymphangitic sporotrichosis). Sự lan tràn xa hơn các chi hiếm gặp; lan tràn vào máu từ da bị nhiễm gây viêm xương khớp khu trú, tổn thương CNS, mắt ở ký chủ khỏe mạnh hay gây nhiều ổ sang thương ở ký chủ suy giảm miễn dịch. Hiếm khi xâm nhập qua đường hô hấp gây viêm phổi tạo hang.

      3. Lâm sàng

      - Sporotrichosis là bệnh nấm duy nhất có thể được chẩn đoán dựa vào bệnh cảnh lâm sàng. Có nhiều thể bệnh, thường gặp nhất là thể da-mạch bạch huyết.

      3.1. Thể da-mạch bạch huyết: bắt đầu ở chi (qua chổ bị chấn thương , trầy xước) 3 tuần (có khi 3 ngày đến 12 tuần) sau khi nhiễm nấm: nổi cục gồ lên, từ vài mm đến vài cm, lúc đầu cứng, không đau, di động; về sau mềm, đau, da trên mặt hồng tím, không di động, phù lên và hóa mủ, loét. Mủ ít, đặc, trắng, hơi vàng, dần dần nổi lên nhiều cục (các cục không cùng tuổi) dọc theo một đường dài, giữa các cục sờ thấy mạch bạch huyết bị viêm cứng. Bệnh nhân không sốt, không đau, sờ thấy hạch vùng phụ cận.

      3.2. Thể da: dạng u nhú giống mụn cóc, giống u hạt sinh mủ, không lan ra mạch bạch huyết.Bệnh nhân AIDS nhiễm sporotrichosis thường có tổn thương da đa dạng nhưng không thường có biểu hiện ở mạch bạch huyết, có thể có nhiễm trùng sâu như viêm khớp.



      3.3. Dạng lan tràn: hiếm, tiếp theo thể da-mạch bạch huyết hoặc nguyên phát. Triệu chứng giống như nhiễm nấm huyết: nổi nhiều cục dưới da, cứng, rải rác khắp cơ thể, vi nấm lan tràn đến khớp xương, màng bao xương, tủy xương, màng não, mắt, phổi, thận, cơ quan sinh dục. Viêm xương khớp hay gặp nhất, các khớp lớn ở chi (bàn tay, khuỷu tay, mắt cá, gối), thường bị một khớp, khớp sưng đau, VS tăng, X quang: mất sụn khớp, phản ứng màng xương. Viêm phổi do sporotrichosis: 1/3 do nghiện rượu, 1/3 có lao phổi, tiểu đường, 1/3 bình thường; ho nhiều đàm, sốt nhẹ, sụt cân, VS tăng. X quang phổi thấy có hang.

      3.4. Dạng niêm mạc: nguyên phát hoặc thứ phát sau dạng lan tràn. Vị trí: mũi, họng, miệng . Triệu chứng: sang thương u nhú dạng mụn cóc, có mủ, loét làm lầm với viêm họng, viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi, viêm mũi, viêm thanh quản. Hạch phụ cận to.

      3.5. Thể phối nguyên phát: hiếm, do hít bào tử nấm vào phổi:sưng hạch rốn phổi, thâm nhiễm phổi.

      4. Chẩn đoán phân biệt

      - Thể da: Lao da, nhiễm Mycobacterium không gây Lao, sarcoidosis, ban giang mai dạng sẩn, viêm da mủ nhiễm trùng, u hạt do ngoại vật, nhiễm Leishmania…

      - Thể da-mạch bạch huyết: nhiễm Mycobacterium marimum, nhiễm Nocardia brasiliensis, nhiễm Leishmania brasiliensis…

      - Thể phổi: Lao, sarcoidosis, histoplasmosis, blastomycosis…

      - Thể khớp: Lao khớp, bệnh gout, viêm khớp dạng thấp…

      5. Cận lâm sang

      5.1. Quan sát trực tiếp bệnh phẩm: nhuộm Gram, thấy được vi nấm ớ dạng tế bào hạt men hay thể sao tua rua (asteroid body) ; phương pháp này ít dùng vì vi nấm rất hiếm khi thấy ở sang thương.

      5.2. Nuôi cấy

      - Trên môi trường Sabouraud, ở nhiệt độ phòng: nấm mọc nhanh khoảng 3-5 ngày, lúc đầu phẳng như kem, 10 ngày sau nhăn nheo, màu đen. Nhìn dưới KHV: sợi tơ nấm mảnh mai, có vách ngăn, màu nâu nhạt, phát triển như bụi hoa cúc, có bào đài thật ngắn, có bào tử đính.

      - Trên môi trường BHI (brain-heart infusion) ở 35-37 độ C: sau 2-4 ngày, mọc thành khúm nhỏ, màu nâu xám, những tế bào nấm men này kéo dài (3-10µm) có dạng “điếu thuốc lá”.

      - Tiêm vào thú vật thí nghiệm: lấy mủ của bệnh nhân pha NaCl 9o/oo, tiêm 0,5-1mL vào màng bụng của chuột bạch đực. Nuôi 3 tuần, chuột bị viêm màng bụng hay dạng u hạt (giống hạt ớt) ở màng treo, hoặc viêm tinh hoàn. Nếu chủng độc tính cao, gây viêm hạch bạch huyết ở đuôi.

      5.3. Mô bệnh học: dạng u hạt, các tế bào dạng Langhans khổng lồ, có các ổ microabscess. Vi nấm, nếu thấy được, có hình “điếu thuốc lá” nhỏ (3-5µm) hoặc hình hạt men tròn, hoặc thể sao tua rua (ở giữa là hạt men, bao quanh bởi một chất màu hồng nhạt hình như ngôi sao).

      6. Điều trị

      6.1. Thể thông thường

      Dung dịch Potassium Iodine (IK) liều tăng dần, 4,5-6mL x 3 lần/ ngày, tiếp tục điều trị thêm 3-4 tuần sau khi lâm sàng trên da được cải thiện. Liều này có thể khởi đầu bằng 1mL x 3 lần/ ngày tăng dần lên mỗi 2-3 tuần để tránh các tác dụng phụ của IK: nôn, sưng tuyến mang tai, phát ban dạng mụn trứng cá. Thời gian điều trị 6-12 tuần.

      6.2. Thể lan tràn (vào máu, các cơ quan khác)

      - Itraconazole 200-600mg/ ngày x 6 tháng, rất có hiệu quả trong thể da-mạch bạch huyết

      - Fluconazole 200-400mg/ngày hoặc Terbinafine 1000mg/ ngày, trong nhiều tháng.

      - Amphotericine B 0,5-1mg/kg/ngày truyền tĩnh mạch, có hiệu quả ở thể phổi, thể lan tràn hoặc ở những người thể Da-Mạch bạch huyết không dung nạp với thuốc uống.

      Tất cả các trường hợp việc điều trị cần phải tiếp tục thêm ít nhất 01 tuần sau khi lâm sàng biến mất.

      Bệnh nhân suy giảm miễn dịch: khởi sự điều trị với Amphotericin B, sau đó bằng Itraconazole suốt đời.

      B. BỆNH U NẤM [MYCETOMA] (Maduromycosis, Madura Foot)

      1. Dịch tễ học và căn nguyên

      - Mycetoma là một nhiễm trùng khu trú mạn tính của mô dưới da và xương, gây ra do các chủng khác nhau của nấm hoặc Actinomyces. Đặc trưng bởi sự hiện diện của các hạt (grain) tìm thấy bên trong ổ abscess, chúng thông với các hốc trên bề mặt da hoặc cả các xương gần kề gây viêm xương-tủy xương.

      - Mầm bệnh gồm 2 nhóm:
      + Do Actinomyces (vi trùng thượng đẳng): gây Actinomycetoma (như Nocardia brasiliensis, Streptomyces somaliensis, Actinomyces israelii...)
      +Vi nấm thật sự (eumycetoma): gây Maduromycetoma (như Madurella mycetomatis...)

      - Bệnh thường gặp ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, vùng có mưa nhiều (châu Phi, Ấn Độ, Trung và Nam Mỹ). Tuổi mắc bệnh: 20-50 tuổi, 90% gặp ở Nam giới. Nghề nghiệp: làm ruộng, làm rẫy, đi chân đất, nhân viên xét nghiệm. Các yếu tố nguy cơ: vệ sinh kém, đi chân đất, hoại tử ở mô, dinh dưỡng kém.

      2. Sinh bệnh học

      Mầm bệnh sống trong đất và xâm nhập qua các vết thương ở da. Nhiễm trùng khởi đầu trên da và mô dưới da, lan tràn vào các mạc cơ, lan ra các mô lân cận và sâu xuống dưới gây tổn thương và phá hủy mô liên kết và xương.

      3. Lâm sàng

      - Các biểu hiện lâm sàng của Mycetoma do nấm và Actinomyces rất giống nhau. Thường gặp ở bàn chân, chi dưới, bàn tay; đầu, cánh tay, có khi ở mông và lưng ngực.

      - Sang thương là sẩn/cục tại nơi xâm nhập, không cùng tuổi, số lượng nhiều làm sưng phù vùng bệnh, đau ít, thượng bì bị loét tạo nhiều lổ dò chảy mủ chứa các hạt. Các hạt (grain) do các sợi tạo thành, là những ổ nhiễm trùng, kích thước nhỏ (< 1-5mm), màu sắc thay đổi theo chủng gây bệnh (trắng, vàng, đen, nâu xám, đỏ, hồng...).Bệnh lan tràn vào các mô sâu, mạc cơ, cơ, xương ; mô trở nên biến dạng, hình thành sẹo và các hốc dò mủ, nếu ăn vào xương gây xốp xương, tan xương. Sốt do nhiễm trùng thứ phát.

      -Tam chứng: (1) vùng chi sưng, không đau (2) nhiều lỗ dò chứa mủ để thoát các hạt (3) vị trí thường gặp ở bàn chân.



      4. Chẩn đoán phân biệt

      - Viêm xương-tủy xương, botryomycosis, chromoblastomycosis, blastomycosis, viêm da mủ do vi khuẩn, u hạt do ngoại vật, Lao da, bệnh Phong.

      5. Cận Lâm sàng

      5.1. Quan sát trực tiếp: nhỏ KOH và xem dưới KHV: thấy các hạt của Mycetoma là chìa khóa giúp chẩn đoán, nếu hạt là những sợi mảnh, đường kính <1µm là hạt do Actinomyces, nếu hạt là những sợi nấm có vách ngăn, to, đường kính 2-10 µm là hạt do Eumycetoma. Ngoài ra, màu sắc hạt cũng góp phần chẩn đoán chủng gây bệnh:
      - Hạt màu đen: Madurella mycetomatis, M. Grisea...
      - Hạt màu trắng: Nocardia brasiliensis, N. Astrroides...
      - Hạt trắng vàng: N. Caviae
      - Hạt màu hồng, trắng: Actinomyces israelii
      - Hạt màu đỏ: A. Pelletieri

      5.2. Mô bệnh học

      Phản ứng viêm mạn tính với các ổ abscess chứa neutrophil, các tế bào khổng lồ và mô sợi. Các hạt được tìm thấy ở trung tâm của ổ viêm, kích thước, màu sắc và hình thể hạt giúp định dạng chủng gây bệnh ( Actinomyces: sợi mảnh < 1µm, cuộn thành hình cầu; nếu sợi nấm có vách ngăn, 2-10 µm,và có vô số bào tử vách dầy là Eumycetoma)

      5.3. Nuôi cấy

      - Actinomyces: môi trường Loweinstein-Jensen ở nhiệt độ phòng, mọc các khúm vi trùng, định danh bằng phản ứng sinh hóa.

      - Eumycetoma: môi trường Sabouraud hoặc môi trường BHI ở nhiệt độ phòng, mọc sau 3-6 tuần.

      5.4. Hình ảnh: Chụp X quang xương, CT scan và MRI có thể giúp xác định tổn thương xương.

      6. Điều trị

      - Phẫu thuật: các tổn thương nhỏ có thể được cắt lọc mô. Đa số tổn thương lan rộng thường tái phát sau khi cắt bỏ không hoàn toàn. Đoạn chi/ tháo khớp cách xa tổn thương được thực hiện.

      - Liệu pháp kháng sinh toàn thân: dùng kéo dài 10 tháng.
      + Actinomycetoma: Streptomycine + Dapsone/hoặc Trimethoprim-Sulfamethoxazole; hoặc Rifampicine + Trimethoprim-Sulfamethoxazole. Amikacine có thể dùng trong nhiễm Nocardia (15mg/kg/ngày) x 3 tuần
      + Eumycetoma: hiếm khi đáp ứng với hóa liệu pháp, một vài trường hợp M. Mycetomatis có đáp ứng với Ketoconazole, Itraconazole (phải điều trị ít nhất 10 tháng). Do đó, vấn đề phẫu thuật cần phải được tiến hành.

      C. BỆNH VI NẤM HẠT MÀU (Chromomycosis – Chromoblastomycosis)

      1. Dịch tễ học và Căn nguyên

      - Là một bệnh mãn tính khu trú ở da và mô dưới da, đặc trưng bởi sang thương tăng sừng giống mụn cóc hay hình bông cải, lâu dài gây biến dạng chi. Bệnh xảy ra khắp thế giới nhưng thường gặp ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới. Vi nấm gây bệnh có trong đất, gỗ mục, lá cây mục xâm nhập vào da qua chấn thương gây rách da. Nam > Nữ, tuổi 20-60 tuổi. Yếu tố nguy cơ: nông dân, đi chân đất, công nhân hầm mỏ...

      - Vi nấm gây bệnh thường gặp là Fonsecaea pedrosol, các chủng khác: F.compacta, Phialophora verrucosa, Cladosporium carrionii,...

      2. Lâm sàng

      Sang thương đầu tiên là sẩn vẩy nhỏ hay nốt, màu hồng, nhô cao, giới hạn rõ, bề mặt sùi như bông cải. Thời gian sau (vài tháng vài năm), một đợt sang thương mới xuất hiện xung quanh là những cục có vảy hơi tím, bề mặt giống như mụn cóc, tiến triển ly tâm, trung tâm lành nhưng thường lớn dần và tập hợp lại thành từng đám, lâu ngày giống như bông cải. Bề mặt có nhiều mụn mủ, vết loét nhỏ. Sang thương vệ tinh có thể có do cào gãi tự tiêm nhiễm hay thông qua mạch bạch huyết. Trong trường hợp viêm nhiễm kéo dài dẫn đến phù bạch huyết ở chi (phù voi - elephantiasis), ESC.

      Vị trí: không đối xứng ở chân, bàn chân; có thể có ở bàn tay, lưng ngực.

      3. Chẩn đoán phân biệt

      Giang mai kỳ III, Lao cóc, mycetoma, sporotricosis, blastomycosis, nhiễm Mycobacterium không phải Lao, bệnh Phong, ESC, u hạt do ngoại vật,...

      4. Cận lâm sàng

      4.1. Quan sát trực tiếp: nhỏ KOH 20% và xem dưới kính hiển vi, thấy vi nấm có hình tròn, có vỏ bọc dày, đường kính 5-15µm, có các thể phân đôi (Medlar bodies) màu nâu, thường kết thành cụm và một số có vách ngăn.

      4.2. Nuôi cấy: môi trường Sabouraud có Chloramphenicol ủ ở 30 độ C: nấm mọc chậm sau 4-6 tuần khúm nấm có bề mặt như nhung, màu nâu hay đen, xám, xanh lá cây.

      4.3. Mô bệnh học: có thế nhuộm hoặc không, thấy u hạt dạng mụn cóc : giả tăng sản thượng mô, tăng sừng, có các ổ abscess trong thượng bì chứa các tế bào viêm và các thể Medlar. Thể Medlar (còn gọi là sclerotic bodies) là những khúm nấm nhỏ màu nâu, có thành dày, hình đồng xu, kích thước 5-15µm xếp thành từng đám hay thành chuỗi.

      5. Điều trị

      - Giai đoạn sớm, khi sang thương nhỏ: phẩu thuật cắt rộng, tái phát có thể xảy ra nếu sang thương không được lấy đi hoàn toàn. Có thể dùng áp nóng tại chỗ.

      - Liệu pháp kháng nấm toàn thân:
      + Amphotericine B truyền IV (>1mg/kg/ngày) thường ít có hiêu quả
      + Điều trị chính: Itraconazole 200-400 mg/ngày, có hoặc không Flucytosine 30mg/kg ngày 4 lần (chức năng thận bình thường). Terbinafine 250mg/ngày. Kéo dài điều trị đến khi sang thương biến mất, thường sau nhiều tháng.

      D. RHINOSPORIDIOSIS

      1. Dịch tễ học và Căn nguyên

      Do vi nấm Rhinosporidium seeberi gây ra. Bệnh có nhiều ở Tích Lan, Ấn Độ, Nam Mỹ, vùng Caribbean. Bệnh gặp nhiều ở trẻ em, người trẻ, là người có thời gian làm việc ở vùng ao tù, nước đọng, Nam > Nữ.

      2. Lâm sàng

      - Bệnh cảnh viêm hạt mạn tính dẫn đến hình thành polype hay biểu hiện tăng sinh ở các màng nhầy.

      - Mũi: thường gặp nhất (3/4 cases), bướu rất dễ vỡ và dễ chảy máu, bề mặt sần sùi, màu hồng hay đỏ tía. Bướu nhỏ nhưng có khi to, lú ra khỏi lổ mũi.

      - Mắt: 14% cases, bướu ở màng nhầy kết mạc, làm cộm, sợ ánh sáng, có thể làm lộn mí.

      - Da: do mầm bệnh từ mũi, mắt ra da do gãi.

      - Một số ít thấy ở thanh quản, đầu dương vật, âm đạo, trực tràng.

      3. Chẩn đoán

      Không thể nuôi cấy được. Chẩn đoán dựa vào mô bệnh học và soi trực tiếp bệnh phẩm: có rất nhiều túi bào tử hình cầu rất lớn, đường kính 100-300µm, bên trong chứa rất nhiều bào tử đường kính 10-15µm.

      4. Điều trị

      Phẫu thuật cắt bỏ mô bị bệnh, nhưng thường hay tái phát. Hóa trị liệu không có hiệu quả.

      E. PHAEOHYPHOMYCOSIS (Phaeomycotic cyst, Cystic Chromomycosis)

      1. Dịch tễ học và Căn nguyên

      - Là một bệnh nhiễm nấm đặc trưng bởi sự hình thành các nang viêm ở mô dưới da.

      - Tác nhân gây bệnh đều là nấm, màu nâu, có gần 101 chủng khác nhau, thường gặp nhất là Wangiella dermatitidisExophiala jeanselmei, Dreschlera spicifera. Các tác nhân này sống hoại sinh trong đất hoặc ở các cây trồng bị bệnh. Bệnh xảy ra ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới. Thường gặp ở nông dân, người làm vườn, trồng rau, người đi chân đất, ở người suy giảm miễn dịch, nhất là người dùng corticosteroides kéo dài.

      2. Lâm sàng

      - U nang dưới da: khối u dưới da, tách biệt, rắn chắc, dễ xác định, ít đau. Tổn thương này có thể lan rộng trở thành những mụn cóc giống như chromomycosis.

      - Thể xâm nhiễm vào xương sàng, dẫn đến hủy xương sàng.

      - Thể xâm nhiễm vào các tổ chức mô ở sâu: nặng, tạo thành các ổ abscess nội tạng có rò rỉ (xương, tủy xương, đặc biệt ở não).

      3. Cận lâm sàng

      - Soi trực tiếp và Mô bệnh học: sợi nấm có vách ngăn màu nâu, đường kính 5-10µm, ở trạng thái xoắn vặn và tạo ra vô số bào tử có vách dầy.

      - Nuôi cấy: trên môi trường Sabouraud hoặc Mycosel ở 35độC, sau 1-4 tuần mọc khối khuẩn lạc xoăn và rắn, đường kính 1cm, màu nâu sẫm ngã đen.

      4-Điều trị

      - Phẫu thuật cắt bỏ, thể xâm nhiễm vào xương sàng dùng phẫu thuật nạo vét toàn bộ khu vực bị bệnh. Nên dùng kèm Itraconazole trong vài tuần đến vài tháng để phòng bệnh.

      - Trường hợp xâm nhiễm vào các tổ chức ở sâu, tiên lượng thường nặng, Itraconazole được chỉ định điều trị .

      F. LOBOMYCOSIS (Keloidal Blastomycosis, Lobo disease)

      - Lobomycosis là bệnh nhiễm nấm hiếm gặp, thấy ở vùng Trung và Nam Mỹ. Nguồn lây truyền chưa rõ, mặc dù các tổn thương thấy tương tự ở cá heo sông. Nhiễm vi nấm từ đất, nước, thực vật ở vùng rừng nằm trong vùng dịch tễ. Vi nấm gây bệnh: Lacazia loboi (Loboa loboi và Paracoccidioides loboi).

      - Bệnh xảy ra ở mọi nơi của cơ thể, tổn thương da giống sẹo lồi, có thể tạo lổ dò. Các nốt phát triển ra vùng da lành chung quanh hoặc vào mạch bạch huyết nông, lâu ngày có thể có hạch vùng. Vị trí: tai, tay, chân, mặt. Bệnh có thể lây từ vị trí này đến vị trí khác do tự tiêm nhiễm.

      - Không nuôi cấy được. Mô bệnh học: thượng bì teo, tẩm nhuận mô bào, lympho bào, tế bào khổng lồ, vi nấm hình cầu, có thành dầy, lớn hơn so với P.brasiliensis.

      - Phẫu thuật lấy đi vùng bị nhiễm là điều trị chủ yếu. Một số báo cáo dùng kết hợp Itraconazole 100mg/ngày và Clofazimime 100mg/ngày x 1 năm có hiệu quả.

      G. ZYGOMYCOSIS (Phycomycosis)

      1. Dịch tễ học và căn nguyên

      Là một bệnh nhiễm nấm mô dưới da, diễn tiến lan tỏa và mạn tính. Thường xảy ra ở Châu Phi, Nam Mỹ, Châu Á. Có 2 dạng:

      - Entomophthoromycosis: do Basidiobolus ranarum (gây bệnh mô dưới da), vi nấm tìm thấy ở các mãnh vụn thực vật và đường ruột của các loài bò sát và động vật lưỡng cư; và Conidiobolus coronatus (gây bệnh quanh mũi), vi nấm tìm thấy ở trong đất, các mãnh vụn thực vật và một số côn trùng.

      - Mucormycosis: do nhiễm nhóm Zygomycetes, vi nấm tìm thấy trong đất, mãnh vụn thực vật, chất thải động vật, không khí.

      2. Chẩn đoán

      2.1. Entomophthoromycois:

      - B.ranarum: tổn thương là nốt cứng, viêm mô tế bào phát triển quanh đai hông, có khi ở tứ chi, vùng mông, thân mình, lan tràn chậm.

      - C.coronatus: tổn thương phát triển ở mũi, lan vào trung tâm mặt, phù nề, cứng, đau. Nặng có thể làm biến dạng mũi, môi, cằm.

      - Mô bệnh học: phản ứng dạng u hạt mạn tính, tẩm nhuận mô bào, lympho bào, tương bào, tế bào khổng lồ, eosinophil. Vi nấm dạng sợi có thành mỏng giống dây đai, rộng, phân nhánh chéo góc phải. Có nhiều eosinophil bao xung quanh sợi nấm (hiện tượng Splendore-Hoeppli).

      - Nuôi cấy: nấm mọc nhanh trên môi trường Sabouraud.

      2.2. Mucormycosis:

      - Bệnh phát triển cấp tính, diễn tiến nhanh, tử vong cao (80%). Thường xảy ra trên người tiểu đường nhiễm toan lactic, u lympho, bệnh bạch cầu, AIDS, suy thận mãn, giảm miễn dịch, phỏng, rối loạn dinh dưỡng…

      - Có 5 hình thái lâm sàng: mũi-não, phổi, da, dạ dày-ruột, lan tỏa. Dẫn đến nhồi máu, hoại thư, và tạo thành các mãnh hoại tử mủ, đen. Loét, viêm mô tế bào, tổn thương giống chốc loét hoại thư, abscess hoại tử thường gặp.

      -Mô bệnh học: sợi nấm có thành dầy, phân nhánh chéo góc phải, có nhiều eosinophil xung quanh.

      3. Điều trị

      3.1. Entomophthoromycosis:

      Potassium iodine là thuốc lựa chọn, 2-6g/ngày x 6-12 tuần (khởi đầu 5 giọt x 3 lần /ngày, tăng dần lên 30-50 giọt x 3 lần/ngày). Ketoconazole 400mg/ngày, Itraconazole 100-200mg/ngày cũng có hiệu quả. Cắt bỏ các tổn thương nhỏ cũng là phương pháp trị liệu, nhưng dễ tái phát.

      3.2. Mucormycosis:

      Phối hợp vừa cắt bỏ mô bị nhiễm với liệu pháp kháng nấm, thường là Amphotericine B.
      Xem tiếp: Nhiễm nấm hệ thống (systemic mycoses)
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác