• Bác sĩ Nội trú của Mỹ được đào tạo thế nào?

      25-02-16, 15:39
      Bác sĩ Nội trú của Mỹ được đào tạo thế nào?
      Bài viết này tặng cho Diễn đàn Bác sĩ Nội trú (bacsinoitru.vn) và tất cả các bạn sẽ, đang, và đã là Bác sĩ Nội trú (BSNT).


      Bác sĩ Huynh Wynn Tran (thứ hai bên trái sang) và đồng nghiệp. Ảnh: FB của bác sĩ Wynn

      Tại Mỹ, ngành Y là ngành học lâu nhất và tốt tiền nhất. Thời gian trung bình để thành bác sĩ (BS) tại Mỹ là 12 năm (4 năm đại học [ĐH] + 4 năm trường Y + 3 đến 8 năm làm BSNT và chuyên khoa sâu). Tất cả các sinh viên (SV) muốn học Y khoa phải tốt nghiệp 4 năm ĐH, học những môn cơ bản như sinh, hoá, lý, tâm lý, toán. Các SV này phải thi kỳ thi quốc gia MCAT (Medical College Admission Test) với điểm cao, trải qua phỏng vấn, có nhiều hoạt động ngoại khoá và nghiên cứu, thì SV ĐH mới được nhận vào chương trình Y Khoa (Doctor of Medicine [MD] hoặc Doctor of Osteopathy [DO]). Trong 4 năm học MD hoặc DO, các SV Y phải thi 2 lần kỳ thi hành nghề quốc gia (USMLE bước 1 và 2, United States Medical Licensure Examinations). Trong kỳ thi USMLE 2, có 2 kỳ thi riêng lẻ, một về kiến thức y khoa, một về kỹ năng giao tiếp lâm sàng. Tất cả SV Y đều phải đậu 2 kỳ thi USMLE để được tốt nghiệp và nhận văn bằng Doctor of Medicine/ Doctor of Osteopathy.

      Điểm chung của chương trình ĐH và chương trình Y khoa (4+4) là các SV sẽ học rất nhiều về khoa học cơ bản, nghiên cứu, các kiến thức và kỹ năng xã hội nhằm chuẩn bị cho một nền tảng kiến thức cơ bản và kỹ năng giao tiếp tốt để hoàn thiện chuyên môn lâm sàng trong lúc làm BSNT.

      1. Ai được nộp đơn vào chương trình Bác sĩ Nội trú?

      Nước Mỹ là nước tự do nên ngoài các SV Y tốt nghiệp trong nước, các BS va SV từ khắp nơi trên thế giới đều có quyền nộp đơn xin làm BSNT tại Mỹ nếu đủ đều kiện. Từ năm 1956, tổ chức ECFMG (Educational Commission on Foreign Medical Graduate), một tổ chức phi lợi nhuận, được thành lập nhằm quản lý và hướng dẫn các SV/BS nước ngoài xin vào làm BSNT tại Mỹ. Các BS nước ngoài sau khi lấy các kỳ thi USMLE giống như SV Y Khoa trong nước sẽ được cấp bằng tương đương và được xem là đủ tiêu chuẩn nộp đơn làm BSNT. Thực tế, các BS nước ngoài muốn được làm BSNT tại Mỹ sẽ phải thi và đạt điểm USMLE rất cao (95-99 phần trăm) trong lần thi đầu tiên và phải tốt nghiệp từ những trường được ECFMG công nhận (Viêt Nam có 10 trường Y trong danh sách này). Hiện nay có khoảng 1/4 bác sĩ tại Mỹ là học Y khoa ở nước ngoài. Sau khi hoàn thành BSNT thì chất lượng các BS có thể xem là tương đương với nhau và được trả lương như nhau, không phân biệt là BS tốt nghiệp tại Mỹ hay nước ngoài. Bằng chính sách này, nước Mỹ đã thu hút rất nhiều BS giỏi nhất của thế giới vào chương trình BSNT của mình.

      2. Quy trình xin vào làm BSNT thế nào?

      Đối với các SV Y Khoa trong nước Mỹ, trước khi tốt nghiệp, họ phải nộp đơn xin làm BSNT vì văn bằng Y khoa mà không có chứng nhận đào tạo BSNT thì sẽ không được hành nghề bác sĩ. Để được làm BSNT, các SV Y trong nước phải thi đậu cao kỳ thi hành nghề USMLE hoặc COMPLEX, có làm nghiên cứu, hồ sơ cá nhân tốt, thư giới thiệu tốt, và phỏng vấn thành công. Các SV Y khoa nộp đơn làm BSNT vào đầu năm thứ 4 (năm cuối) thông qua một hệ thống điện tử là ERAS và sẽ biết kết quả được nhận vào làm BSNT trước khi tốt nghiệp văn bằng MD hoặc DO.

      Vào làm BSNT tại Mỹ rất cạnh tranh vì có nhiều BS khắp nơi trên thế giới nộp vào. Đối với các SV Y học tại Mỹ, họ có nhiều điều kiện được nhận hơn vì ngôn ngữ bản xứ, kinh nghiệm lâm sàng tại Mỹ, và đã thực tập trong hệ thống y tế trong nước. Thêm nữa, các trương Y khoa của Mỹ đều có bệnh viện giảng dạy nên các SV Y Khoa được thêm ưu tiên khi nộp đơn vào làm BSNT của bệnh viện (BV) trường mình. Vì vậy, các chuyên khoa khó vào nhất như da liễu, phẫu thuật tạo hình, phẫu thuật chỉnh hình, nhãn khoa, v..v.. thường nhận SV Y khoa tốt nghiệp tại Mỹ. Các chuyên khoa dễ vào hơn như y khoa gia đình, tâm thần, nhi khoa, nội tổng quát, thường dễ nhận các BS nước ngoài vào. Tuy vây, một chương trình BSNT chuyên khoa nội tổng quát có 10 vị trí thường nhận hơn 2000 đơn xin vào.

      Đối với các BS nước ngoài, sau khi họ được nhận văn bằng tương đương do ECFMG cấp thì họ cũng nộp đơn cùng một lúc với các SV Y trong nước thông qua hệ thống ERAS và sẽ biết kết quả một lượt với các SV Y khoa Mỹ trong ngày Match Day vào tháng 3 hằng năm.

      3. Chương trình đào tạo BSNT thế nào?

      Đa số các chương trình đào tạo BSNT được công nhận ở Mỹ được kiểm soát bởi ACGME (Accreditation Council on Graduate Medical Education), một tổ chức phi lợi nhuận thành lập năm 1981, hiên quản lý khoảng 9,600 chương trình BSNT trường Y MD với trên 130 chuyên khoa, với tổng cộng hơn 120,000 BSNT (1). Kể từ tháng 7 năm 2015, ACGME chứng nhân luôn các chương trình BSNT của trường Y DO. Hằng năm có khoảng 30,000 vi trí BSNT để cho khoảng 23.000 các SV Y trong nước Mỹ và toàn thế giới nộp vào (2).

      Chương trình BSNT tại Mỹ kéo dài từ 3 đến 7 năm tuỳ chuyên khoa. Các chuyên khoa đa khoa bao gồm y khoa gia đình, nhi khoa, nội khoa, cấp cứu là 3 năm. Chuyên khoa lâu nhất là phẫu thuật thần kinh từ 6 đến 7 năm. Các chuyên khoa còn lại trong khoảng từ 4 đến 5 năm.

      BSNT tại Mỹ được đào tạo theo hình thức bậc thang. Càng lên cao, BSNT càng độc lập và càng nhiều trách nhiệm trong việc giảng dạy và chăm sóc bệnh. Từ năm đầu tiên (PGY1, Postgraduate Year 1) đến năm cuối (PGY3 cho nội hoặc PGY5 cho ngoại), các BSNT sẽ phải trải qua nhiều bước xét duyệt hằng năm để được tăng cấp. Ở mỗi năm nội trú, các BSNT sẽ được đánh giá thông qua những mốc kỹ năng gọi là Milestones do ACGME quy định (4). Những mốc kỹ năng này dựa vào những tiêu chí.

      Có 6 kỹ năng và tiêu chí để đánh giá BSNT tại Mỹ do ACGME lâp ra:

      1. Chăm sóc chữa trị bệnh nhân chu đáo, hợp lý, và hiêu quả

      2. Kiến thức y khoa có nền tảng, nắm vững kiến thức y sinh học, cận lâm sàng và lâm sàng, dịch tễ học...và cập nhật những kiến thức mới để áp dụng vào chăm sóc điều trị bệnh.

      3. Luôn cải thiên và học hỏi có hệ thống để đánh giá và cải thiện cách chăm sóc điều trị bệnh nhân. Có khả năng đánh giá các bằng chứng y khoa hiện tại nhằm cải thiện cách điều trị.

      4. Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng mềm để giao tiếp hiệu quả trong việc trao đổi thông tin với bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, và các chuyên viên y tế khác.

      5. Tính chuyên nghiệp bao gồm tuân thủ các điều lệ và quy tắc làm việc, bao gồm y đức, vá có ý thức chăm sóc bệnh nhân trong môi trường đa sắc tộc.

      6. Làm việc theo hệ thống bao gồm hiểu rõ hệ thống làm việc hiện tại, biết tận dụng các nguồn trợ giúp để cải thiện chăm sóc bệnh nhân.

      Bằng các tiêu chuẩn này, tất cả các BSNT khi làm xong chương trình trên khắp nước Mỹ đều có những kỹ năng và kiến thức nhất định. Cứ 3 đến 5 năm ACGME đều xét duyệt các chương trình BSNT để xem họ có bảo đảm tiêu chuẩn đào tạo. Tất cả các BSNT Mỹ đều phải tham gia các hoạt động nghiên cứu. Đặc biệt các BSNT muốn vào chuyên khoa sâu (Subspecialty Fellowship) sau nội trú thì họ bắt buộc phải làm nghiên cứu vì ở bậc Fellowship đòi hỏi nhiều kỹ năng nghiên cứu. Các chuyên khoa sâu thường kéo dài từ 2 đến 3 năm sau khi tốt nghiệp BSNT chuyên khoa chính. Một số chuyên khoa sâu sau nội tổng quat là tim mạch (3 năm), cơ xương khớp (2-3 năm), tiêu hoá (3 năm), ung thư (3 năm). Các chuyên khoa sâu sau ngoại tổng quát là tạo hình (2 năm), ung thư (2 năm).

      Khi vào nội trú, các BSNT sẽ có bằng hành nghề BS tạm thời (limited physician license) và làm việc dưới sự hướng dẫn của BSNT năm trên (senior residents) hoặc BS chính (Attending physician). Năm đầu tiên nội trú (PGY1) là năm BS thực tập (Intern physician) vì làm việc chủ yếu theo sự hướng dẫn của các BS năm trên (senior resident) và BS chính (attending). Năm thứ 2 trở đi (Postgraduate Year, PGY2), các BS chính thức gọi là BSNT, không còn là BS thực tâp nữa. Điểm này rất quan trọng vì có nhiều bài báo thường hay dich resident physician là BS thực tập là không đúng. BSNT (PGY2 trở lên) bất đầu dạy BS năm 1 và SV Y khoa, đồng thời làm trường nhóm (team lead) trong khám và chữa bệnh. BS chính (Attending) chỉ là ngưởi giám sát và can thiệp khi cần thiết.

      Giảng dạy và liên tục học hỏi là một phần bắt buộc trong chương trình nội trú. Ngoài giảng dạy các BSNT năm dưới và SV Y khoa, các BSNT còn phải thuyết trình thường xuyên, trình bày nghiên cứu, hoặc tư vấn cho các chuyên khoa khác. Theo quy định ACGME, tất các giảng viên của chương trình BSNT phải là BS được chứng nhận chuyên khoa (Board Certified Physicians). Các giảng viên này thường là giảng viên của trường Y mà chương trình BSNT liên kết và giảng dạy.

      Trong lúc làm nội trú, các BSNT phải đậu kỳ thi USMLE Bước 3 (Step 3) là kỳ thi 2 ngày để có chứng nhận cơ bản. Xong hết các kỳ thi USMLE, các BS phải làm nội trú trên 2 năm mới được nộp đơn xin bằng hành nghề (full licensed physician). BSNT từ năm 3 trở đi và có bằng hành nghề độc lập có thể làm thêm (moonlight) trong BV để kiếm thêm thu nhập. Điểm thú vị là khi bị bệnh nhân kiên, tất cả các BS (dù năm nội trú nào đi nữa) hay BS chính cũng sẽ bị kiên như nhau, nhưng càng lên cao trách nhiệm sẽ càng nhiều hơn.

      Sau khi hoàn thành nội trú, các BSNT sẽ được cấp giấy chứng nhận nôi trú (Certificate of Completion). Các BSNT này đủ tiêu chuẩn thi chứng nhận chuyên khoa (Specialty Board Exams). Điểm quan trong là chỉ có BS có bằng hành nghề và chứng nhận chuyên khoa mới được làm việc và gọi là BS tại Mỹ. Nhiều người tốt nghiệp Y khoa ở nước ngoài nhưng vẫn không được gọi là BS nếu như không có bằng hành nghề.

      4. Ai trả lương cho BSNT tại Mỹ?

      Chi phí đào tạo BSNT hằng năm khoảng 16,2 tỉ USD và chi trả từ nhiều nguồn khác nhau, phần lớn từ chính phủ Mỹ thông qua chương trình Medicare CMS, Medicaid, và VA của Bộ Quốc Phòng (3). Trước năm 1965, BSNT tại Mỹ được trả lương từ BV thông qua chi phí khám bệnh. Từ năm 1965, chương trình Medicare của Bộ Y tế ra đời và giúp trả một phần chi phí đào tao BSNT. Hiện nay, số lượng BSNT và kinh phí để đào tạo BSNT là do quốc hội Mỹ quyết định.

      Chi phí đào tạo một BSNT hằng năm rất cao, trung bình khoảng $100.000 và dao động tuỳ tiểu bang (3). Trong số chi phí này, lương trả cho BSNT chiếm khoảng $50,000 - 60,000. Phần còn lại dùng để chi trả cho BV và BS giảng dạy. BSNT tại Mỹ là một nghề như bất kỳ nghề nào khác, được trả lương, có bảo hiềm sức khoẻ, ngày nghỉ (4 tuần/năm), và có tiền hưu trí 401K. Khác với BSNT tại Việt Nam là đi học (education) và phải thi vào, BSNT tại Mỹ là một nghề thực hành (training). Vì vậy, không có kỳ thi nội trú mà chỉ có quá trình nộp đơn và xét duyệt, và phỏng vấn như đã nói trên.

      5. BSNT đóng vai trò gì trong Hệ thống Y tế Mỹ?

      Tại Mỹ, BSNT được xem là một trong những nguồn nhân lực chính để khám chữa bệnh. Tất cả các BV hàng đầu nước Mỹ (UCLA, Stanford, Mayo, Cleveland, USC, MGH-Harvard, Yale, John Hopkins, UCSF, v..v) đều là bệnh viện giảng dạy và có chương trình BSNT. Làm BSNT là một bước bắt buộc cho tất cả các BS trước khi chính thức trở thành BS hoạt đông độc lập và được chứng nhận chuyên khoa. Đối với các BV, BSNT là nguồn nhân lực miễn phí và có BSNT thì BV được trả thêm lương từ chính phủ để đào tạo. Vì vậy, đa số các BV tại Mỹ đều muốn trở thành BV giảng dạy do được nhiều ưu tiên từ các hãng bảo hiểm và chính phủ và được kiểm định chất lượng từ ACGME. Điều này cũng nâng cao tính cạnh tranh giữa các BV với nhau nhằm tạo ra môi trường đào tạo BSNT tốt nhất.

      Nếu các BV tại Việt Nam biết tận dụng nguồn BSNT thì có thể là một hướng mới để trả lời câu hỏi "tiền đâu" trong việc đào tạo BS.

      6. Tên bằng cấp, danh xưng bác sĩ, bằng hành nghề, và chứng chỉ chuyên môn

      Danh xưng (title) thường được một tổ chức chuyên môn công nhận sau khi các ứng viên đã tốt nghiệp một chương trình học cơ bản, trải qua quá trình thực hành, và thi đậu kỳ thi hành nghề. Tên văn bằng (degree name) được cấp sau khi các ứng viên trải qua một khoá học và đủ tiêu chuẩn để tốt nghiệp. Danh xưng và tên văn bằng không nên lẫn lộn với nhau.

      Danh xưng bác sĩ (physician) tại Mỹ cũng trải qua một quá trình như vậy. Bằng cấp Y khoa tại Mỹ là bằng sau ĐH và văn bằng Y khoa là cao nhất (Doctor of Medicine, cấp tiến sĩ). Nhiều nơi khác trên thế giới, văn bằng Y khoa là văn bằng ĐH MBBS (Cử nhân y khoa và cử nhân phẫu thuật). Tuy nhiên, cả MD và MBBS điều đủ tiêu chuẩn được nhận vào nội trú. Chương trình nội trú chỉ cấp giấy chứng nhận (Certificate) chứ không cấp văn bằng. Vì vậy, sau khi MD và MBBS xong nội trú, cả hai đều có chung danh xưng là bác sĩ (physician) mặc dù tên văn bằng Y Khoa khác nhau.

      Các trường Y tại Việt Nam ghi danh xưng "Bác sĩ đa khoa" trên văn bằng cho các SV vừa tốt nghiệp trong khi các SV này chưa bao giờ là BS thực hành và chưa thi bằng hành nghề bác sĩ. Trước năm 1975, các chương trình Y Khoa của miền Nam khá giống Mỹ với 1 dự bị Y khoa + 6 năm trường Y, SV tốt nghiệp nhận bằng cử nhân và tiến sĩ y khoa quốc gia, sau khi thực hành và thi lấy bằng hành nghề được gọi là bác sĩ.

      7. Lời Kết

      Ngày này vai trò của BS hiện đại đã thay đổi nhiều. BS tại Mỹ không hề có quan niệm "Lương Y như Từ mẫu". Thay vào đó, BS là người đứng đầu các dịch vụ y tế cho bệnh nhân, nối kết các chuyên viên, y tá, và bênh nhân nhằm cung cấp chất lương chăm sóc sức khoẻ tốt nhất.

      Tham khảo

      1. https://www.acgme.org/acgmeweb/tabid/116/About.aspx
      2. http://www.nrmp.org/press-release-20...4756-programs/
      3.https://www.acgme.org/acgmeweb/Porta...spc004burt.pdf
      4.https://www.acgme.org/acgmeweb/tabid...ilestones.aspx
      5. http://med.stanford.edu/gme/current_.../corecomp.html


      Bác sĩ Huynh Wynn Tran, MD
      Tổ Chức Y Khoa VietMD.net, Inc. USA
      bswynntran@vietmd.net
      Comments Leave Comment

      Click here to log in

      Lắp ráp các hình ảnh như bạn nhìn thấy ở góc trên bên phải của hình dưới

       
       
      Tin khác